Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu rất quan trọng để duy trì và phát triển sản xuất. Muốn có những giống dưa lê mới năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh cần nghiên cứu và chọn tạo giống mới, công việc có ý nghĩa rất lớn đối với công tác chọn tạo. Các giống mới cần được khảo nghiệm một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà.
Dựa vào kết quả của quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống dưa lê sẽ là cơ sở khoa học để lựa chọn những giống tốt thích nghi với điều kiện của từng vùng, miền phù hợp với từng mùa vụ và các chế độ canh tác khác nhau. Ngày nay, dưa lê đang được các địa phương quan tâm, tuy nhiên các giống dưa lê trong nước chưa đáp ứng được thị hiếu và nhu cầu của thị trường. Do vậy, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống dưa lê cũ, năng suất thấp bằng các giống dưa lê mới năng suất cao, chống chịu tốt, mẫu mã phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Vì vậy, ngoài các biện pháp kỹ thuật canh tác, việc sử dụng giống thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển của dưa lê.
Nguồn gốc và phân loại dưa lê 1. Nguồn gốc Dưa lê (Cucumis melon L) thuộc họ bầu bí là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó được trồng ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và ngày nay dưa lê trồng được ở nhiều nơi trên thế giới [9]. 6 Theo nghiên cứu của (Mallick và Masui 1985, Kerje và Grum, 2000) dưa có thể đã được trồng ở Trung Quốc gần 2000 năm trước Công nguyên (Keng, 1974).
Quả chín được sử dụng là chính, quả non được sử dụng làm thực phẩm, hạt có thể ăn được và rễ có thể được sử dụng trong y học. Dưa lê được đưa đến miền đông nước Nga từ thế kỷ thứ 10 và đến Anh năm 1600. Các thương gia châu Phi đã mang hạt dưa lê đến bán ở nhiều vùng châu Mỹ những năm 1640, do vậy dưa được trồng rộng rãi ở Mỹ và những giống tốt đã được sản suất tại Mỹ như Alabama Sweet (1850), Peerless (1960), Charleston (1954) và 2 giống Phinney Early và Gerogia Rattlenake (1870), sau đó là giống Charleston Gray (1954) và Crim Sweet, Jubibe (1964). Dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melo L.
Makuwa) hay còn gọi Korean melon là một loại dưa được trồng phổ biến ở Hàn Quốc. Các nghiên cứu về sự phân bào dòng di truyền của cây cho thấy rằng dưa lê Hàn Quốc có thể có nguồn gốc ở Đông Ấn Độ, sau đó, được cho là đã được đưa vào Trung Quốc từ hướng tây qua con đường tơ lụa [25]. Phân loại Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ (Cucurbitales), họ (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Đã có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau.
Trong những năm qua, kỹ thuật ADN đã được sử dụng để giải quyết phân loại mối quan hệ, số lượng đa dạng di truyền giữa các đơn vị phân loại, ví dụ như giữa các chi và loài (Schierwater 1995; Campos & cộng sự 1994; Milla & cộng sự 1996). Độ nhạy của phương pháp mới cũng cho phép xác định kiểu gen hoặc giống cây trồng trong phạm vi một loài (Virk và cộng sự 1995; Fang & Roose 1997; Lee & cộng sự 1996). Phân loại dưa lê theo Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng 7 sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào bảy nhóm như sau: 1. agrestis: Cùi mỏng, cây đơn tính trồng như cỏ dại ở châu Phi và châu Á.
Kích thước quả rất nhỏ (<5 cm), là loại trái cây không ăn được với thịt quả rất mỏng và hạt nhỏ. Phân bố rộng khắp thế giới, nguồn gốc từ Châu Phi, Nam Mỹ và Nhật Bản. cantalupensis: Quả có kích thước trung bình, mịn, có vẩy hoặc lưới có màu biến đổi có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín.
Gồm có dạng reliculatus. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhụy. Là loại dưa mùa đông có kích thước lớn, không thơm, bảo quản được lâu với vỏ dày, mịn, có vị ngọt, được trồng từ Trung Á đến Địa Trung Hải. Có quả rất dài, không ngọt, ăn quả còn non như dưa chuột.
Được tìm thấy ở Trung Đông như Afganistan tới Bắc Phi, thường có hoa đơn tính cùng gốc. Nguồn gốc ở Ấn Độ và Nam Á. Được trồng ở Trung Quốc, Hàn Quốc trước kia nhưng hiện nay hầu như không còn. Phát triển ở Nhật từ thế kỷ 10.
Loài này chống chịu khỏe, thích nghi khí hậu ẩm ướt. Đặc điểm cây có hoa đơn tính và lưỡng tính, lá có lông mịn, vỏ quả trắng trơn, chất lượng quả ăn không ngon, nhạt như dưa chuột nên được dùng làm salat. chito và dudaim được Naudin mô tả, nhưng nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson. Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy.
Do mang những quả nhỏ, thơm, đỏ hoặc nâu nên được trồng như được trồng như một loại cây cảnh trí trong các khu vườn các nước châu Á. momordica: là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng [17]. Lim - Edible Medicinal and Non - Medicinal Plants, dưa lê được chia thành 6 nhóm sau: 1. Cucumis melo cantalupensis: có nguồn gốc ở Châu Âu (Italia, Pháp), dưa có da thô và có nốt sần, được người Mỹ gọi là dưa đỏ.
Cucumis melo makuwa: dưa lê Hàn Quốc. Cucumis melo conomon: gồm dưa gang, dưa gang trái tròn, dưa gang trái dài. Cucumis melo reticulatus: dưa tây vàng, dưa cantaloupe. Cucumis melo indorus: dưa hoàng yến, dưa mật, dưa tây xanh, dưa tây, dưa xanh.
Cucumis melo reticulatus: dưa vàng hami [16]. Giá trị dinh dưỡng của dưa lê Dưa lê là một trong những loại trái cây phổ biến ở các nước nhiệt đới. Dưa lê có mùi thơm và thường được dùng làm món tráng miệng. Dưa lê có hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng như magie, natri khá cao, không có cholesterol.
Những người muốn giảm cân nên bổ sung dưa lê vào thực đơn ăn kiêng của họ. Vì có chứa nhiều kali, dưa lê giúp điều hòa huyết áp tốt và có thể giúp ngăn ngừa được triệu chứng đột quỵ. Chất kali có trong loại trái cây này có thể giúp ngăn ngừa bệnh sỏi thận. Dưa lê có một hàm lượng chất xơ khá cao, vì vậy nó giúp giảm nhẹ được chứng táo bón.
Dưa lê giàu vitamin C, mà đó cũng là một chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch và thậm chí cả ung thư. 9 Do chứa hàm lượng axit folic cao, dưa lê rất có lợi cho phụ nữ mang thai, giúp cho bào thai khỏe mạnh. Nó cũng giúp ngăn ngừa chứng loãng xương, chống lại sự suy nhược của cơ thể [26]. Thành phần dinh dưỡng chứa trong 100g dưa lê Chất dinh dưỡng Khoáng (mg) Vitamin (mg) Protein(g) 0,54 Ca 6 B1 0,038 Cacbohydrat(g) 9,09 Fe 0,17 B2 0,012 Chất béo(g) 0,14 Mg 10 B3 0,418 Chất xơ thực phẩm(g) 0,8 Mn 0,027 B5 0,155 Năng lượng(kcal) 36 P 11 B6 0,088 Đường 8,12 K 228 C 18 Lipit(g) 0,1 Na 18 Zn 0,09 (Nguồn: Wikipedia.org - 2017) [23] - Dưa lê giúp hạ huyết áp: Dưa lê cũng giàu hàm lượng kali, một loại khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp.
Kali cũng cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể, nó giúp tế bào khỏe mạnh và có sức đề kháng với nhiều bệnh tật. - Giúp da sáng đẹp hơn: Dưa lê là một trong những trái cây giàu vitamin C - một loại vitamin chống oxi hóa giúp tăng nồng độ collagen, loại protein giúp da khỏe và trẻ trung. Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng trong chức năng của hệ miễn dịch và có thể giúp chống lại virut gây sốt và cảm cúm. Mặt khác, vitamin C giúp hấp thụ chất sắt.
Chỉ cần ăn một quả dưa lê cỡ trung bình cũng sẽ giúp bạn nhận đủ lượng vitamin C cần thiết mỗi ngày. - Hạt dưa lê giàu protein: Hạt dưa lê có chứa khoảng 3,6% protein, tương đương với lượng protein có trong đậu nành. Vì vậy, bạn nên ăn cả hạt dưa lê vì chúng rất có lợi cho sức khỏe. 10 - Tốt cho tim mạch: Các axit béo omega - 3 trong hạt dưa lê đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các vấn đề về tim mạch.
Đây là một trong những lợi ích của hạt dưa lê với sức khỏe. - Dưa lê có tác dụng giảm béo: Nếu bạn muốn giảm cân trong thời gian mùa hè thì dưa lê cũng như dưa hấu cần được đưa lên hàng đầu. Lý do là dưa lê không những vừa ngon, dễ ăn mà trong một quả dưa lê trung bình chỉ có chứa 64 calo và không có chất béo. - Dưa lê cải thiện mật độ xương: Một trong những lợi ích sức khỏe của dưa lê là giúp ngăn ngừa loãng xương.
Vì vậy, phụ nữ và trẻ em nên tăng cường ăn nhiều trái cây này. - Hỗ trợ đường ruột: Dưa lê có tác dụng loại bỏ các loại giun, sán trong ruột. Đó là lý do tại sao bạn nên cho trẻ ăn dưa lê trong mùa hè vì nó giúp trẻ phòng ngừa các căn bệnh về tiêu hóa. - Ngừa bệnh Alzheimer: Một nghiên cứu gần dây cho thấy, cơ thể có ít folate sẽ tăng gấp 3 lần nguy cơ mắc bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ) ở những người cao tuổi.
Và các chuyên gia khuyên bạn nên ăn những thực phẩm giàu chất forlate như dưa lê [27]. Yêu cầu về ngoại cảnh của dưa lê 1. Nhiệt độ Dưa lê là cây trồng thuộc họ bầu bí, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên cây ưa thích khí hậu ấm áp, phát triển tốt trong điều kiện khô, nắng, nóng, không chịu rét và sương giá. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ ban ngày là 24 - 290C, nhiệt độ ban đêm là 16 - 240C, nhiệt độ thấp dưới 100C sự sinh trưởng, phát triển bị trở ngại và ngừng hoạt động (Tạ Thị Thu Cúc, 2005) [6].