MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài. Rau quả là loại cây trồng có nhiều chất dinh dƣỡng (vitamin, muối khoáng, đƣờng, tinh bột, protein, lipit…) và là loại thực phẩm cần thiết không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày của con ngƣời. Đặc bệt, khi lƣơng thực và các loại thức ăn giàu đạm đã đƣợc đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng nhƣ một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dƣỡng và kéo dài tuổi thọ của con ngƣời. Hằng năm ngành sản xuất rau quả cung cấp cho chúng ta một lƣợng sản phẩm không nhỏ và là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Trong tất cả các loaị rau quả, dƣa là loại rau ăn quả đƣợc ƣa chuộng ở Việt Nam nói riêng và trên khắp thế giới nói chung. Quả dƣa là nguồn cung cấp vitamin A, vitamin B6, vitamin C, kali, các chất khoáng và là nguồn cung cấp dồi dào của các chất xơ, folate, niacin, acid pantothenic và acid thiamine.Quả dƣa lê đƣợc sử dụng chủ yếu để ăn tƣơi, ép nƣớc quả để uống. Giá trị dinh dƣỡng của dƣa lê phụ thuộc tùy vào từng loại giống. Dƣa lê có chứa nhiều vitamin C và Potassium, giống có vỏ màu vàng nhƣ Cantaloupe chứa nhiều beta carotene, tiền tố của vitamin A…Ngoài ra dƣa còn là một mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận kinh tế cao, là nguồn nguyên liệu quan trọng để cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến.
Dƣa lê đƣợc biết đến thuộc họ bầu bí là rau ăn quả có thời gian sinh trƣởng ngắn, trồng đƣợc nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao.Mặc dù dƣa lê là cây trồng rất quen thuộc với đời sống con ngƣời. Song diện tích trồng dƣa lê chƣa lớn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là thiếu giống tốt cho các vùng trồng. Các giống dƣa lê trồng ở nƣớc ta hiện nay chủ yếu là các giống địa phƣơng nhƣ dƣa lê trắng Hà Nội, dƣa lê mật Bắc Ninh, dƣa lê c 2 vàng Hải Dƣơng.
Các giống này cho năng suất không cao, thịt quả mỏng, quả chóng bị hỏng và kích thƣớc mẫu mã không đẹp. Một số giống nhập nội có ƣu thế lai nên cho năng suất cao. Song giá giống khá đắt nên hiệu quả sản xuất giảm. Tuy nhiên, việc sản xuất dƣa hiện nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là ở nƣớc ta dƣa đƣợc trồng theo quy mô hộ gia đình là chủ yếu, mang tính tự cung tự cấp, nhiều nơi đã hình thành vùng trồng dƣa theo hƣớng sản xuất hàng hóa nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời đặc biệt là các loại dƣa sạch, vẫn nhiều vùng còn sử dụng giống dƣa lê địa phƣơng nên năng suất và chất lƣợng chƣa đƣợc cải thiện trong thời gian dài.
Việc nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kĩ thuật trồng trọt, thâm canh và chọn tạo những giống dƣa lê có chất lƣợng cao, phù hợp với các điều kiện sinh thái đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng là hết sức cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cho ngƣời nông dân. Thái Nguyên là một tỉnh trung du thuộc miền núi phía Bắc. Là nơi tập trung nhiều trƣờng Đại học, Cao đẳng và rất nhiều trƣờng trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và các trƣờng trung học chuyên nghiệp do vậy tập chung một số lƣợng lớn sinh viên nên việc tiêu thụ rau quả vô cùng lớn. Mặt khác, đây là tỉnh có điều kiện khí hậu thời tiết thích hợp cho nhiều loại rau và dƣa sinh trƣởng, phát triển tốt.
Tuy nhiên, các loại dƣa đƣợc bán trên thị trƣờng hiện nay chủ yếu đƣợc nhập khẩu. Việc nghiên cứu và sản xuất dƣa các loại vẫn chƣa đƣợc quan tâm và đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng về cả số lƣợng và chất lƣợng. Xuất phát từ yêu cầu và cơ sở thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melo L.) nhập nội trong vụ Thu Đông năm2016 tại Thái Nguyên”.Mục đích,mục tiêu, yêu cầu của đề tài. Mục đích của đề tài.
Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lƣợng cao đối với một số giống dƣa lê Hàn Quốc trong vụ Thu Đông năm 2016 ở thành phố Thái Nguyên.Mục tiêu của đề tài. Nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng, phát triển, năng suất, khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của một số giống dƣa lê nhằm chọn ra giống có năng suất và chất lƣợng tốt phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, góp phần phát triển sản xuất dƣa lê Hàn Quốc phục vụ nhu cầu của thị trƣờng tại Thái Nguyên.Yêu cầu của đề tài. - Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng và đặc điểm hình thái của các giống dƣa lê Hàn Quốc trong vụ Thu Đông năm 2016 tại Thái Nguyên. - Đánh giá khả năng chống chịu của các giống dƣa lê thí nghiệm.
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống dƣa lê thí nghiệm. - Sơ bộ đánh giá chất lƣợng của các giống dƣa lê trong vụThu Đông năm 2016. Ý nghĩa của đề tài. - Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: + Kết quả nghiên cứu của đề tài bƣớc đầu đánh giá đƣợc khả năng thích ứng của một số giống dƣa lê Hàn Quốc trong vụ Thu Đông 2016 tại Thái Nguyên, là cơ sở cho việc lựa chọn giống cây trồng cho khu vực.
+ Giúp sinh viên có đƣợc những kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong quá trình trồng và chăm sóc dƣa lê, từ đó góp phần củng cố lý thuyết đã học, c 4 biết cách thực hiện một đề tài khoa học. Giúp sinh viên củng cố kiến thức thực hành, bố trí thí nghiệm đồng ruộng và kĩ thuật chăm sóc cây trồng. +Giúp sinh viên nắm đƣợc cách thu thập, xử lí số liệu, trình bày báo cáo của một chuyên đề tốt nghiệp. Trên cơ sở những kiến thức nắm đƣợc sẽ là hành trang phục vụ cho công việc sau khi ra trƣờng.
- Ý nghĩa thực tiễn: +Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất dƣa hiện nay, các biện pháp canh tác mới nhằm năng cao năng suất, chất lƣợng dƣa, góp phần năng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, góp phần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trƣờng. + Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, định hƣớng cho kế hoạch gieo trồng đại trà các giống dƣa lê Hàn Quốc tại Thái Nguyên và các vùng khác có khí hậu tƣơng đồng. c 5 Phần2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học.
Từ xƣa ông cha ta đã có câu: “Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” điều đó nói lên vai trò quan trọng của công tác giống cây trồng trong ngành trồng trọt. Giống tốt đã nâng cao đƣợc hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất góp phần nâng cao về cả mặt sản lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng cây trồng. Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tƣ liệu rất quan trọng để duy trì và phát triển sản xuất. Việc nghiên cứu những giống dƣa lê mới năng suất, chất lƣợng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống.
Các giống mới cần đƣợc khảo nghiệm một cách kỹ lƣỡng, xác định vùng thích nghi của các giống mới trƣớc khi đƣa vào sản xuất đại trà. Dựa vào kết quả của quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng, phát triển và năng suất của một số giống dƣa lê là cơ sở khoa học để lựa chọn những giống tốt thích nghi với điều kiện của từng vùng, miền, phù hợp với từng mùa vụ và các chế độ canh tác khác nhau. Có nhiều phƣơng pháp trong chọn tạo giống để có giống tốt: Phƣơng pháp chọn tạo giống truyền thống phổ biến nhất là lai hữu tính, ngoài ra còn có các phƣơng pháp tạo giống khác nhƣ lai tạo, chọn lọc, gây đột biến, chuyển nạp gen, nuôi cấy túi phấn… bằng các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Do nhu cầu sử dụng rau quả nói chung và dƣa lê nói riêng của con ngƣời càng ngày càng cao, các giống dƣa hiện đang sử dụng trong sản xuất còn thiếu sự đa dạng, chƣa đáp ứng đủ giống cho ngƣời dân thì việc so sánh, khảo nghiệm để tìm ra các giống mới một cách kịp thời có độ đồng đều, độ ổn c 6 định, khả năng thích nghi, khả năng chống chịu, khả năng cho năng suất và chất lƣợng là việc làm rất cần thiết.
Cơ sở thực tiễn.Tình hình sản xuất dưa lê trong và ngoài nước. Tình hình sản xuất dưa lê trên thế giới. Theo số liệu thống kê từ FAO, diện tích trồng dƣa trên thế giới có sự biến động qua các năm từ 2010 đến năm 2014. Diện tích trồng dƣa năm 2010 khoảng 1,33 triệu ha, năm 2014 là 1,18 triệu ha.
Năng suất dƣa tăng nhẹ qua các năm từ 2010-2014. Năm 2010 năng suất đạt 23,27 tấn/ha đến năm 2014 đạt 25,13 tấn/ha, tăng 1,38 tấn/ha.1: Tình hình sản xuất dƣa trên thế giới từ 2010 - 2014. Do diện tích trồng dƣa biến động nên sản lƣợng dƣa cũng biến động theo. Năm 2010, sản lƣợng dƣa đạt 31,55 triệu tấn tăng lên 31,86 triệu tấn năm 2011, do diện tích trồng dƣa giảm đi nên năm 2012 sản lƣợng dƣa cũng giảm theo còn 28,21 triệu tấn.
Năm 2014 diện tích trồng dƣa tăng lên nên sản lƣợng dƣa lại có xu hƣớng tăng lên đạt 29,63 triệu tấn. Các cây trồng họ bầu bí là một trong mƣời loại rau quan trọng nhất đƣợc trồng ở Mỹ. Các bang sản xuất nhiều là Florida, Califonia.000 ha trong sản xuất mỗi năm. Giá trị nông nghiệp của họbầu bí mỗi năm ở Mỹ là 120,8 triệu USD (năm 1994), chiếm 11% tổng giá trị thị trƣờng ở Mỹ.
Dƣa chuột, dƣa lê, dƣa thơm và các loài Cucumis khác đƣợc lƣu trữ tại các trạm giới thiệu khu vực thực vật tại Ames, Iowa. Dƣa lê đƣợc duy trì ở các trạm khu vực phía Nam, nhƣng đã đƣợc chuyển đến Ames vào năm 1987. Califonia, Arizona, Geogria, Indiana là các bang sản xuất dƣa lê hàng đầu của Mỹ. Tại Ấn Độ dƣa lê đƣợc trồng chủ yếu ở phía Nam.
Tổng sản lƣợng thu hoạch dƣa thơm là 112,770 mẫu Anh và có giá trị 417. Năm 1997, sản xuất dƣa lê tăng 6,5% so với năm 1996[8]. Tuy nhiên vài năm trở lại đây diện tích trồng dƣa lê ở Mỹ đang có xu hƣớng giảm. Năm 2004, giá trị sản xuất dƣa lê của Mỹ đạt 300,6 triệu USD, giảm hơn 100 triệu USD so với năm 2001 đạt 429,3 triệu USD.