Đặt vấn đề Việt Nam có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới cùng với sự phân hoá về địa hình đã tạo nên những vùng khí hậu đặc thù có thể phát triển được các loài cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới và cây ăn quả ôn đới. Mặc dù có điều kiện khí hậu đất đai thuận lợi cho cây ăn quả phát triển nhưng do điều kiện kinh tế xã hội nghề trồng cây ăn quả Việt Nam trước đây ở vào tình trạng kém phát triển và sản lượng hàng hoá thấp. Mặc dù chúng ta có nguồn tài nguyên cây ăn quả khá phong phú và đa dạng nhưng theo các chuyên gia cây ăn quả (Viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Miền nam) nhận định: Hiện nay, chúng ta phải lựa chọn một số chủng loại cây ăn trái có ưu thế và khả năng cạnh tranh để đầu tư các khâu kĩ thuật, xây dựng thương hiệu và chiến lược xúc tiến thương mại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chiếm lấy thị trường thế giới. Theo các chuyên gia, hiện tại, chúng ta cần chú ý đến một số chủng loại cây ăn trái như: Thanh long, Vú sữa, Măng cụt, ổi, sơ ri và Bưởi.
Bưởi là một cây ăn quả đã góp phần tạo nên ý nghĩa tích cực kể trên và là đối tượng phát triển chiến lược của ngành trồng cây ăn quả Việt Nam. Từ lâu, bưởi rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Một số giống bưởi nước ta đã trở thành thương hiệu uy tín không chỉ ở trong nước mà còn cả trên thị trường thế giới như: bưởi Da Xanh, bưởi Diễn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm Roi,… hiện nay cam quýt trở thành một trong những cây ăn quả chủ lực ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm khoảng 70 giống khác nhau (Mura, Đỗ Đình Cả - 1997) [9]. n 2 Trồng bưởi không chỉ đem lại giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị dinh dưỡng khá tốt.
Trần Thế Tục thành phần hoá học có trong 100g quả bưởi tươi phần ăn được: Đường 6-12%, Lipit 0,1g, protein 0,9g, vitamin C 90mg, P2O5 12mg, cellulose 0,2g, ngoài ra còn có các loại vitamin B1, B2…., caroten 0,2mg, các khoáng chất ở dạng vi lượng rất cần thiết cho cơ thể con người [13]. Trong 1kg bưởi phần ăn được cung cấp 530 - 600 calo nguồn năng lượng dễ tiêu. Ngoài dùng ăn tươi bưởi còn được chế biến thành rất nhiều sản phẩm có giá trị như: Nước quả, mứt… Trong công nghiệp chế biến vỏ, hạt để lấy tinh dầu, bã tép để sảm xuất pectin có tác dụng bồi bổ cơ thể. đặc biệt bưởi có tác dụng rất tốt để chữa các bệnh đường ruột, tim mạch, cũng như chống ung thư.
Để phát huy mọi lợi thế về điều kiện tự nhiên, mở rộng diện tích thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng, tăng tính cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới, chúng ta cần duy trì, mở rộng và phát triển những vùng trồng bưởi đặc sản như: Bưởi năm roi (Vĩnh Long, Cần thơ, Sóc Trăng), bưởi da xanh (Bến Tre, Tiền Giang), Thanh Trà (Huế), Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Đoan Hùng (Phú Thọ)… và đặc biệt cần lai tạo, để có thêm được những giống phù hợp với điều kiện sinh thái của các vùng khác nhau hơn nữa[12]. Miền núi Phía Bắc - Việt nam là một vùng có truyền thống lâu đời trong sản xuất cây ăn quả có múi. Tuy nhiên, việc thâm canh các loại cây ăn quả có múi (cam quýt) ở đây còn nhỏ lẻ tự phát và hiệu quả thấp do thiếu bộ giống tốt. Để mở rộng quy mô sản xuất cây ăn quả phục vụ phát triển kinh tế xã hội và xuất khẩu, việc nghiên cứu và tạo ra bộ giống phù hợp có năng suất, chất lượng cao là yêu cầu rất cần thiết hiện nay của vùng.
Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề về giống phù hợp với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên nói riêng và miền bắc nói chung, tôi tiến hành nghiên n 3 cứu chuyên đề: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng cho năng suất, chất lượng của các dòng Bưởi lai có triển vọng tại Thái Nguyên”. Mục đích đề tài Dựa trên cơ sở đánh giá đặc điểm sinh học của một số dòng Bưởi lai có triển vọng của vùng nghiên cứu nhằm tuyển chọn các giống, dòng Bưởi lai phù hợp với tỉnh Thái Nguyên nói riêng và khu vực miền núi trung du phía Bắc Bộ nói chung. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được đặc điểm hình thái của một số dòng dòng Bưởi lai - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của một số dòng Bưởi lai tham gia thí nghiệm. - Đánh giá đặc điểm ra hoa, kết quả, năng suất chất lượng quả của các dòng Bưởi lai có triển vọng.
Ý nghĩa của đề tài - Củng cố kiến thức đã được học và vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất; có cơ hội học hỏi thêm những kinh nghiệm trong thực tiễn sản xuất; nâng cao năng lực nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bản thân. - Kết quả nghiên cứu là cơ sở để khuyến cáo cho nông dân và các doanh nghiệp lựa chọn, đưa các dòng Bưởi lai vào cơ cấu cây trồng sản xuất của mình. - Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho công tác chọn tạo giống. - Góp phần tìm ra những dòng bưởi ưu tú phục vụ sản xuất tại vùng nghiên cứu và một số vùng có điều kiện sinh thái tương tự.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học của đề tài Cây họ cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai và chế độ chăm sóc; hay sự biểu hiện của kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Đào Thanh Vân và cộng sự, (2000) [6]). Tùy thuộc vào độ tuổi của cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt khác nhau, giống có sự thích nghi là khác nhau.
Vì thế việc đánh giá sinh trưởng là rất cần thiết trong công tác chọn giống, nhất là với những giống cây mới được tuyển chọn. Cây họ cam quýt có những nhu cầu nhất định về môi trường và dinh dưỡng. Mỗi một vùng nhất định, do tính phong phú, đa dạng của điều kiện sinh thái khí hậu, biện pháp thâm canh…đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng ra hoa đậu quả của cây bưởi. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng của cây ăn quả hàng năm.
Công tác điều tra thực trạng sản xuất, tìm hiểu sự ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên trong đợt ra hoa đậu quả của giống giống bưởi việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đặc biệt là sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng để tăng năng suất, sản lượng của các giống bưởi. Các vùng trồng cam quýt trên thế giới Trong nhiều năm qua, năng suất, diện tích và sản lượng của cam quýt không ngừng tăng nhanh. Vành đai trồng trọt trải dài từ 40o vĩ bắc xuống 40o vĩ nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt vùng nhiệt đới á nhiệt đới. n 5 Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam, Cuba, Thái Lan, Malaysia và miền Nam Trung Quốc giáp Việt Nam đang gặp những khó khăn lớn về phát triển cam quýt do một số bệnh hại điển hình của vùng nhiệt đới, như bệnh greening gây nên.
Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cam quýt của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc không tăng lên được. Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), chiếm 5,4 - 5,6% tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn, còn lại bưởi chiếm một lượng rất ít khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn. Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á và tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines vv. Các vùng trồng cam quý nổi tiếng trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở những vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới, hoặc vùng khí hậu ôn hoà ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương.
Những vùng trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến là vùng Địa Trung Hải và châu Âu, như Tây. Hiện nay cây bưởi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng bưởi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề trồng bưởi cũng sớm phát triển và ngược lại.1: Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới Năm Năm Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2003 2008 2010 2011 2012 Diện tích (ha) 260.1 ta thấy năm 2012, diện tích trồng cây bưởi đạt 253.971 ha, năng suất bình quân đạt 20,85 tấn/ha và sản lượng đạt 6. Trong vòng gần 10 năm từ 2003 - 2012, diện tích bưởi mặc dù giảm nhưng sản lượng tăng thêm 1,1 triệu tấn, nguyên nhân chủ yếu do năng suất được tăng lên bởi áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất bưởi.
Phân vùng địa lý trên thế giới hiện nay có các vùng trồng cam quýt chính như sau: Vùng cam quýt châu Mỹ Là vùng khá lớn và tập trung, gồm chủ yếu ở các nước Trung Mỹ kéo lên phía bắc đến khoảng 40o vĩ bắc và xuống phía nam đến vĩ độ tương đương bao gồm các nước như: Honduras, Mexico, Cuba, Dominica, Nicaragoa, Panama, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Costarica, Brazil, Argentina, Equado, Uruguay, Colombia. Ngoài ra cam quýt còn được trồng trong nhà kính và ở những vùng ấm áp ven biển miền Nam Canada. Tuy không phải là nơi khởi nguyên của cam quýt, nhưng lịch sử trồng cam quýt ở châu Mỹ gắn liền với lịch sử khám phá ra châu lục này của các nhà thám hiểm châu Âu, đặc biệt là của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử du nhập cam quý vào châu Mỹ, phần lớn cho rằng nhà thám hiểm người Tây Ban Nha, Phó vương Columbo đã mang cam quýt đến châu Mỹ trong chuyến đi biển lần thứ hai vào năm 1483.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cam quýt được đưa vào châu Mỹ từ những người đi biển Bồ Đào Nha trước năm 1483 [14].