Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cỏ dai 1.1 Định nghĩa về có dại Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nông nghiệp thế giới, đã có rất nhiều định nghĩa về cỏ dai được đưa ra nhưng tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thé nơi cỏ đại xuât hiện và đôi tượng cây trông liên quan sẽ có cách định nghĩa chính xác nhât. Theo Đỗ Thị Kiều An (2010) cỏ đại là những loài thực vật bản địa hay ngoại lai sinh trưởng, phát triển ngoài ý muốn của con người. Sự hiện diện của chúng gây khó chịu và can trở các hoạt động của con người hoặc ảnh hưởng bat lợi đên lợi ích của ho. Theo Nguyễn Hữu Trúc (2011) cỏ dại là các cây mọc không theo ý muốn trên các điện tích mà con người tác động lên và gây tác hại đên những mục tiêu của con người.
Theo Hà Thị Hiến (2001) cỏ dai là những thực vật mọc tự nhiên trên đồng ruộng, ven đường, bãi đất hoang. Ở những khu đất canh tác, cỏ dại có ảnh hưởng xấu tới quá trình sinh trưởng, năng suất, pham chất của cây trồng, gây tốn kém trong chi phí sản xuất.2 Tác hại của cỏ dại Cỏ dại có sức sống rất mãnh liệt và luôn luôn mạnh hơn các loại cây trồng trên diện tích canh tác, cỏ đại có mặt ở mọi nơi và nơi nào cỏ dại xuất hiện thiệt hại mà chúng gây ra luôn là sự quan tâm hàng đầu của nông dân. Cỏ dại không chỉ gây cản trở hoạt động sản xuất nông nghiệp và làm gia tăng chi phí sản xuất ma còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây khó khăn cho việc bảo trì các công trình xây dựng, nhà cửa, cảnh quan.1 Làm giảm chất lượng cây trồng, gia tăng chỉ phí sản xuất Cỏ đại tranh chấp ánh sáng, nước, dinh dưỡng và carbon dioxide dẫn đến làm giảm năng suất cây trồng. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên cỏ dại đã hình thành nhiều đặc điểm sinh học đặc biệt như có bộ rễ phát triển mạnh ăn sâu và rộng hơn, liều lượng dich bảo lớn hơn.
Chính vì vậy khả năng hút dinh dưỡng và nước của cỏ dại lớn hơn cây trồng rất nhiều. Sự gia tăng của 1 kg khối lượng cỏ dai tương đương với việc giảm 1 kg khối lượng cây trồng (Nguyễn Hữu Trúc, 2011).2 Ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và động vật Theo Đỗ Thị Kiều An (2010): Có một số loài cỏ dại nếu gia súc ăn phải sẽ làm giảm chất lượng sữa và thịt. Ví dụ việc nuôi cừu lấy lông thả trên đồng ruộng có cây ké đầu ngựa. hạt cỏ dính vào lông cừu làm giảm chất lượng lông cừu thương phẩm, hạt cỏ Parthenium lẫn vào hạt giống cỏ làm thức ăn gia súc làm giảm chất lượng hạt giống và bị cắm trao đổi buôn bán ở những vùng chưa bị nhiễm loài cỏ này.
Hoặc hạt và đoạn gay của thân cỏ có độ âm cao lẫn trong hạt cây trồng sau thu hoạch, tiếp tục hô hap làm cho hạt nông sản nóng lên và có thể bị thối. Có những loại cỏ có thể chứa chất độc làm ảnh hưởng đến cây trồng. Ngoài ra, nhiều loại cỏ dại còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gia súc. Thường những loại cỏ này có thé chứa những chất độc như acide cyanhydric, các alkaloid hoặc oxalate có khi lẫn vào thức ăn gia súc (Nguyễn Hữu Trúc 2011).3 Có dại là ký chủ của sâu bệnh Cỏ đại là ký chủ của sâu bệnh hại: trước hết, các cây cỏ đại cùng họ, bộ hay có những đặc điểm giống cây trồng là những ký chủ phụ rất tốt cho sâu bệnh.
Ngoài việc làm ký chủ, cỏ đại còn tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho sự phát triển của sâu bệnh. Ruộng có nhiều cỏ dại, ẩm độ và nhiệt độ cũng thay đôi, thường thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Mặt khác, cỏ dại cạnh tranh điều kiện sống, làm cây trồng sinh trưởng kém, tính chống chịu giảm di, qua đó tác hại của sâu bệnh càng thêm nghiêm trong (Nguyễn Hữu Trúc, 2011).4 Giảm hiệu quả của quá trình thu hoạch Việc cỏ dại phát triển trong thời gian thu hoạch sẽ làm cho quá trình thu hoạch bị chậm lại, nhất là đối với các nước có nên nông nghiệp tiên tiến và vùng thu hoạch bằng cơ giới. Cỏ dai cũng gây tốn thất nông sản trong khi thu hoạch do bị che khuất, vướng víu ở một sô khu vực co phát triên mạnh thì mật độ có dai cao còn làm tăng chi phí đồ bảo hộ lao động trong khi thu hoạch.2 Tổng quan về cỏ man trầu 1.1 Giới thiệu cỏ man trầu Theo Bùi Khánh Mai (2021), cỏ man trầu (Eleusine indica (L.
Cỏ man trầu có vi ngọt nhạt, tính bình, không độc, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, mát gan, giải độc, lợi tiêu, hạ áp, hạ sốt và sốt rét. Cỏ man trầu được dùng dé chữa các bệnh như cao huyết áp, lao phối, trẻ em bị mụn nhot. - Tên khác: cỏ vườn trầu, Thanh tâm thảo, cỏ chỉ tía, ngưu cân thảo. - Tên nước ngoài: Indian millet, Crowfoot grass, Dog’s tail grass, Crasbgrass, Wiregrass (Anh), Eleusine d’inde (Phap).
- Phan loai: + Giới: Thực vat Plantae — Plants + Nganh: Ngoc Lan (Magnoliophyta) + Lớp: Hanh (Liliopsida) + Phan lớp: Thai lài (Commelinidae) + Bộ: Lua (Poales) + Họ: Lúa (Poaceae) + Tông: Eragrostideae + Chi: Eleusine Gaerth + Loài: Eleusine indica 1.2 Đặc điểm thực vật hoc Là loại cỏ hằng niên, rễ khoẻ, mọc thành cụm, thân mọc thang hoặc mọc bò, cao chừng 10-60cm. Cỏ man trầu mọc hoang dai ở bãi cỏ, vệ đường ở khắp nước ta. Còn mọc ở Campuchia, Lào, Trung Quoc, các nước nhiệt đới và 4 nhiệt đới khác. Gia súc hay ăn, còn dùng dé làm thuốc (toàn cây).
Mùa thu hái gần như quanh năm (Đỗ Tắt Lợi, 2004).3 Mô tả thực vật Lá mềm, hình dai, dài 10-30cm, rộng 3-7cm, be lá có long. Cụm hoa mọc thành bông, gồm 5 đến 7 bông mọc ở ngọn và có đến 2 bông khác mọc thấp hơn trên cán hoa, trông giống như những ngón tay. Quả thuôn dai, gần như 3 cạnh, dài 1. Mô tả chi tiết về cỏ man trầu (Nguyễn Thị Thu Hang, 2018) - Lá: phiến lá dai 10 đến 35 cm và 3 đến 10 mm rộng, thang, gap lại phía dưới, kế phẳng phía đỉnh lá, kết thúc bằng một đỉnh nhọn.
Gan lá gần như song song, nỗi lên ở giữa tạo thành một rãnh. Bìa lá mỏng mịn và có lông tơ, nhất là ở gần màng mỏng ôm thân phía dưới. - Thân: Thân cây dẹt và phân nhánh, có ít hoặc không có lông dọc theo mép và có nhiều thịt ở gốc. Thân cây có thể nằm hoặc mọc thăng.
Phần gốc của thân có màu trắng hoặc xanh lục nhạt. - Rễ: rễ chùm, màu trắng hay vàng nhạt. - Phát hoa: màu xanh là do một số nhánh gan từ một diém (ít khi 2), dai 4 đến 6 cm, 2 đến 10 chùm gié hoa chẻ ra và thang xiên, dai 3 - 15 cm và 3-7 mm rộng. Những hoa con, - Phát hoa: màu xanh là do một số nhánh gắn từ một điểm (ít khi 2), đài 4 đến 6 cm, 2 đến 10 chùm gié hoa chẻ ra và thắng xiên, dai 3 - 15 cm và 3-7 mm rộng.
Những hoa con, không cuống, gắn thành 2 hàng mặt dưới của cột 3 sông. Hoa con phẳng ở bên như cánh quạt, xếp lỏng lẻo, chồng chéo lên nhau, 4 đến 8 mm dai và 3 — 6 mm rộng. Trau còn gọi là mài lớn glume và glumelle gọi là mài nhỏ. Trau ở bên dưới 1 — 3 mm dai và trau bên trên 2,5 — 5 mm dai, có màng, hình mũi giáo hiện diện những gân ở trung tâm rõ và thô.
Ban đâu có màu xanh lá cây, không lông, nhưng trở nên sáng bóng và bạc khi có sự hiện diện của những hoa con bên trong sau đó chuyến thành màu nâu khi chín, những bông con rời khỏi trục giữa các hoa.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về phòng trừ cỏ man trầu bằng các hoạt chất thuốc trừ cỏ Theo Dương Văn Chín (2005) có khoảng 400 loài cỏ dại đã xuất hiện ở Việt Nam trong đó họ Poaceae va họ Cyperaceae là hai họ gây hại lớn nhất với 167 loài. Cỏ dại trên cây trồng cạn rất đa dạng về loài và mật số, chúng phát triển rất nhanh, có sức cạnh tranh và mức gây hại nghiêm trọng đối với cây trồng. Các loài cỏ dại phổ biến như: lồng vực cạn (Ecololum), cỏ chác (Emilliaceae), cỏ thân ngầm như cỏ cú (Rotundus), sinh sản vô tính mạnh như cỏ chỉ (C. dactylon) và đặc biệt là cỏ man trầu (Eleusine indica) là những loại co được đặt biệt chú ý bởi khả năng gay hại nghiêm trọng.
Cỏ man trầu gây hại cho nhiều loại cây trồng bao gồm bông, ngô, khoai lang, lúa can, mía, rau và nhiều vườn cây ăn trái. Cỏ man trầu gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cây trồng, gây mat năng suất và tăng tỉ lệ mắc bệnh hại ở cây trồng như Phytophthora Theo kết quả thử nghiệm của Seng (2010) tại cánh đồng mướp đắng ở Air Kuning, Perak, Malaysia, xác nhận cỏ man trầu đã phát triển khả năng kháng glufosinate và paraquat. Kiểm soát cỏ man trầu bằng cả paraquat và glufosinate giảm ~ 10% ở 21 NSP, so với ở 7 NSP đã được thực hiện trong nhà kính đã khang định rằng cỏ man trầu tại đó đã phát triển khả năng kháng glufosinate va paraquat. Thí nghiệm cho thấy cỏ man trầu kháng có khả năng chống lại glufosinate gấp 3.4 lần và 3,6 lần với paraquat.
Jalaludin và ctv (2017) đã tiến hành thí nghiệm xác định đặc điểm cơ chế kháng glufosinate của co man trau, khi phân tích co chế khang tại vi trí mục tiêu và không mục tiêu của một quan thé cỏ man trầu kháng Glufosinate ammonium. Kết quả hoạt tính glutamine synthetase (GS) được lấy từ quan thé nhạy cảm S quan thé kháng R cho thấy sự hấp thu GS ở 2 quan thé là giống nhau, việc chuyển 14 C glufosinate vào chéi và rễ cỏ man trầu cũng ghi nhận 44% và 47% thuốc diệt cỏ được chuyên ra khỏi lá cỏ trong 24 giờ sau khi xử lý thuốc. Kết quả phân tích về chuyên hóa Glufosinate cho thay không có chất chuyên hóa chính nào trong mô của cả 2 quan thể S và R. Thí nghiệm đưa ra kết luận rằng kháng glufosinate trong quần thể không phải do GS không nhạy cảm, không phải do sự tăng hoạt động hay thay đổi hap thu chuyền hóa Glufosiante.
Do đó, kết luận cơ chế kháng glufosinate không phải kháng thuốc tại vị trí mục tiêu và cơ chế kháng chính xác vẫn chưa được xác định.