ĐẶT VẤN ĐỀ Loãng xương là nguyên nhân thường gặp dẫn đến tình trạng vỡ lún thân đốt sống, dù chỉ với một lực tác động rất nhẹ. Ước tính, nước Mỹ hằng năm có khoản 1 – 1,5 triệu bệnh nhân được chẩn đoán vỡ lún đốt sống gây nên áp lực y tế rất lớn1. Trong đó, 40 – 50% số bệnh nhân trên 80 tuổi được chẩn đoán vỡ lún thân đốt sống cấp cứu hoặc ngẫu nhiên khi đi khám sức khỏe2. Vị trí vỡ lún thường là ở vùng bản lề ngực lưng (D12 – L2), chiếm khoảng 60 – 70% trường hợp3.
Phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng bơm xi măng đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả giúp giảm đau nhanh, làm vững bền và cải thiện biến dạng cột sống. Hiện nay, phương pháp tạo hình thân đốt sống được thực hiện bằng cách sử dụng bóng và không có bóng. Những bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật bằng phương pháp này là những bệnh nhân loãng xương, vỡ lún thân đốt sống sau tai nạn với lực tác động rất nhẹ (tai nạn sinh hoạt, mang vác nặng, vận động sai tư thế v.v…), không đáp ứng với phương pháp điều trị bảo tồn sau 3 tuần. Bệnh nhân sẽ được thăm khám kỹ trên lâm sàng kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh để xác định vị trí và dạng vỡ lún, có hay khôn có phù tủy trên phim cộng hưởng từ sóng T2W - STIR.
Vào những năm 1980, Hervé Deramond và Galibert (người Pháp) đã thực hiện bơm xi măng vào đốt sống qua da điều trị xẹp lún cho một số bệnh nhân bị u máu cột sống và ghi nhận kết quả giảm đau tốt sau thủ thuật. Sau đó, phương pháp này được phát triển và thực hiện ở nhiều nơi tại Pháp rồi dần dần mới lan sang Bắc Mỹ4. Đến năm 1994, Mark Reiley5 – một phẫu thuật viên Chấn thương chỉnh hình đã đưa ra cách sử dụng bóng bơm xi măng để tạo hình thân đốt sống lún xẹp. Hai phương pháp bơm xi măng này ngày càng được phát triển và hoàn thiện về dụng cụ kỹ thuật.
Kể từ đó, việc sử dụng xi măng tạo hình thân đốt sống đã để điều trị vỡ lún thân đốt sống do loãng xương, chấn thương và ung thư di căn3, giúp bệnh nhân giảm đau nhanh 2 chóng, cải thiện độ gù vẹo cột sống, giảm thời gian nằm viện và xâm lấn tối thiểu, không gây tàn phá các tổ chức xung quanh. Khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện E đã tiến hành áp dụng kỹ thuật bơm xi măng tạo hình thân đốt sống vỡ lún vững do chấn thương và bước đầu đạt kết quả khả quan. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả tạo hình đốt sống bằng bơm xi măng trong vỡ lún thân đốt sống do chấn thương” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả lâm sàng và hình ảnh của vỡ lún thân đốt sống do chấn thương được bơm xi măng tạo hình thân đốt sống tại bệnh viện E.
Đánh giá kết quả bơm xi măng trong vỡ lún thân đốt sống do chấn thương tại bệnh viện E. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu xƣơng cột sống và liên quan Cột sống là cấu trúc xương quan trọng nhất của cơ thể con người, có vai trò kết nối các phần cơ thể cả về giải phẫu lẫn chức năng. Mỗi người có khoảng 33-35 đốt sống được xếp chồng lên nhau thành các đoạn khác nhau.
Cụ thể, phần cổ gồm 7 đốt sống, cong lên phía trước. Phần ngực có 12 đốt sống cong ra phía sau. Phần thắt lưng bao gồm 5 đốt sống cong lên phía trước. 5 đốt sống tiếp theo nối với nhau thành xương cùng, cong ra phía sau.
2-3 đốt cuối cùng hiện dính liền thành xương cụt. Mỗi đoạn cột sống có cấu trúc và số lượng đốt riêng phù hợp với chức năng của nó như hỗ trợ cử động đầu, hô hấp, mang thai. Cột sống là trục trụ của cơ thể, vừa có tính linh động vừa chịu lực cho toàn bộ cơ thể. Chiều dài của toàn bộ cột sống xấp xỉ bằng 40% chiều cao cơ thể.
Các điểm cong và mặt khớp nối linh hoạt giữa các đốt sống cho phép cột sống phân bổ lực đều, giúp cơ thể duy trì thăng bằng và thực hiện đa dạng các chuyển động. Cấu trúc của mỗi đốt sống giống nhau về tổng quan (Hình 1.1) nhưng có điểm khác biệt phù hợp với vị trí. Thân đốt sống hình trụ dẹt là bộ phận chịu tải trọng chính. Nó nối với đĩa đệm ở trên và dưới để cho phép chuyển động giữa các đốt.
Thành phần chính của đĩa đệm là sụn đàn hồi và gân, giúp giảm tác động lực truyền lên tủy sống. Cung sau đốt sống gồm hai mảnh xương hình vòm nối với thân qua hai cuống. Cuống có thành hõm bao quanh lỗ đốt sống - khe hở cho dây thần kinh và mạch máu đi qua. Các mỏm xương tách ra từ cung sau phục vụ cho các khớp liên đốt ổn định vận động.
Khi các đốt xếp lại, chúng tạo thành ống sống để bảo vệ tủy sống và cho phép cột sống uốn cong theo nhiều hướng khác nhau. Cấu tạo phức tạp song linh hoạt này mang lại sự cân bằng giữa độ vững chắc và đa dạng chuyển động cho cột sống. Cấu trúc điển hình của một đốt sống Kích thước các phần cấu tạo của đốt sống khác nhau giữa các vùng cột sống nhằm đáp ứng chức năng linh động. Cụ thể, thân đốt và cuống có kích thước tăng dần từ đoạn cổ xuống đoạn thắt lưng.
Tương quan với thể tích tang dần phía trong đốt, cần được đánh giá trước và sau khi nén, qua đó xác định lượng xi măng cần bơm. Nếu bơm quá mức có thể dẫn tới rò rỉ xi măng ra ngoài. Do đó, kích thước Trocar sử dụng khác nhau giữa các vùng: 11G thắt lưng và ngực thấp hoặc 13G cho đoạn ngực cao hơn. Khi chọc qua cuống, đường vào cần định hướng về phía trên của cuống để tránh gây tổn thương cho rễ thần kinh và mạch máu nằm ở góc trên của lỗ giữa đốt.
Điều này góp phần bảo đảm an toàn kỹ thuật cho bệnh nhân. Đốt sống c Cột sống cổ bao gồm 7 đốt xếp chồng theo chiều thẳng đứng, hình dạng có sự khác biệt giữa các vị trí song vẫn giữ những đặc điểm chung của một đống sống. Tổn thương xẹp đốt sống xuất phát từ quá trình di căn ung thư hoặc loãng xương. Phương pháp bơm xi măng tạo hình thân đốt sống không 5 được chỉ định trong trường hợp này do nhiều nguy cơ biến chứng phẫu thuật.
Đốt sống ng c Cột sống ngực bao gồm 12 đốt sống được đánh số từ D1 đến D12 (Hình 1. Mỗi đốt có cấu tạo tương tự như thân đốt, cung sau, mỏm gai. Hai bên mỗi thân đốt là hõm sườn trên và dưới. Chúng nối liền với đầu xương sườn tạo thành cấu trúc xương sườn bảo vệ tạng trong lồng ngực và ổ bụng.
Kích thước đốt tăng dần theo chiều xuống để đảm bảo tính ổn định. Cuống D12 thẳng đứng hỗ trợ trọng lượng phía trên. Hình dạng cuống nghiêng ra ngoài giúp mở rộng lồng ngực, tạo khoảng cho cơ hoành và phổi hoạt động. Xương sườn cùng với cột sống tạo khoang lồng ngực, cho phép ngực mở rộng co lại để hô hấp thực hiện.
Cấu trúc của đốt sống ng c (Atlas giải phẫu Frank Netter – Phiên bản 06 – 2016) Cuống sống đoạn ngực càng lên cao càng giảm kích thước thiết diện và góc tạo với thân đốt sống càng dốc hẹp, khó tiếp cận để đưa Trocar mở đườn 6 cho bơm xi măng tạo hình thân đốt sống, dễ làm vỡ cuống và có nguy cơ chọc vào màng phổi do không kiểm soát được lực bơm và hướng đưa Trocar, gây tràn khí màn phổi. Do đó, vỡ lún thân đốt sống đoạn ngực cao rất ít khi được chỉ định bơm xi măng tạo hình. Đốt sống th t lưng 5 đốt sống thắt lưng là những đốt sống có kích thước lớn nhất của cột sống. Đặc điểm phân biệt là có mỏm ngang và không có diện sườn như ở cột sống ngực (Hình 1.
Cuống đốt L1 hướng thẳng trước sau, giống với những cuống đốt sống đoạn ngực thấp. Càng xuống thấp tới L5, hướng đi của cuống càng chéo vát, lớn nhất là ở đốt L5, Đường tiếp cận thông dụng là qua cuống sống do kích thước cuống to. Khi chọc Trocar, cần lưu ý theo dõi tụ máu trong cơ thắt lưng chậu do đường đi của dụng cụ men qua cơ này, để đảm bảo an toàn thủ thuật. Cấu trúc của đốt sống th t lưng (Atlas giải phẫu Frank Netter – Phiên bản 06 – 2016) 7 M ch m u Các nhánh động mạch phân tách từ động mạch chủ, chạy dọc theo rìa ngoài của thân đốt sống để cung cấp máu (Hình 1.
Chúng liên kết thành vòng quanh thân đốt. Hệ thống tĩnh mạch cột sống gồm 3 hệ không van: trong thân đốt, xung quanh ngoài màng cứng và dọc theo thân đốt. Sự liên thông giữa các hệ có thể gây tràn dịch mủ. Tĩnh mạch trong thân đốt thoát ra sau qua tĩnh mạch nền, nối với hệ xung quanh ngoài màng cứng.
Nó cũng thoát ra bên vào hệ dọc theo thân đốt. Hệ dọc thân đốt tạo thành mạng lưới chạy song song các thân đốt, liên kết với hệ ngoài màng cứng rồi đổ vào hệ tĩnh mạch ở giữa phía trước cột sống. Hệ thống mạch máu quanh sống 1. Tổn thƣơng vỡ lún thân đốt sống Vỡ lún đốt sống (VLĐS) của cột sống xảy ra thứ phát do lực nén theo trục dọc trên – dưới và khi cột sống bị hạn chế khả năng gập – duỗi thẳng, dẫn đến.
Theo định nghĩa, VLĐS làm tổn thương cột trước của cột sống, do đó dẫn đến tổn thương tường trước – giữa của thân đốt sống và dây chằng dọc 8 trước. Điều này dẫn đến sự biến dạng hình nêm đặc trưng. VLĐS không liên quan đến tường sau của thân đốt sống và không liên quan đến các tổ chức sau sống hoặc phức hợp dây chằng dọc sau. Đặc điểm này giúp phân biệt giữa vỡ lún đốt sống và vỡ trật đốt sống.
Vỡ lún đốt sống do áp lực nén ép thường được coi là vỡ lún vững. Dịch tễ Nguyên nhân phổ biến nhất của vỡ lún đốt sống là loãng xương, mặc dù chấn thương, nhiễm trùng và khối u cũng có thể dẫn đến vỡ lún đốt sống6. Phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao nhất do thay đổi nội tiết tố có thể dẫn đến loãng xương. Mật độ khoáng xương giảm do chứng loãng xương làm gián đoạn vi cấu trúc xương và làm thay đổi hàm lượng protein không phải collagen trong chất nền xương.
Sự suy giảm cấu trúc của mô này dẫn đến xương dễ gãy và dễ bị gãy.