Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 62 34 01 02) của tác giả Vũ Thịnh Trường, được thực hiện tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Võ Hồng Đức và TS. Lê Thị Thanh Loan, mang tên: "Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong quản trị kinh doanh và phân tích kinh tế, đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là cơ sở trọng yếu để thiết kế và thực thi chiến lược cũng như hoạch định chính sách phát triển. Phương pháp truyền thống thường dựa trên các tỷ số tài chính (như ROA, ROE). Tuy nhiên, văn bản luận án chỉ ra bốn hạn chế lớn của phương pháp tỷ số tài chính theo tổng kết của Faello (2015):
- Việc chỉ định không chính xác tử số hoặc mẫu số dẫn đến tỷ số tài chính bị sai lệch.
- Sự khác biệt về chuẩn mực kế toán, phương pháp kế toán và phân loại kế toán qua thời gian cũng như giữa các doanh nghiệp gây khó khăn khi so sánh đối chuẩn.
- Dữ liệu tỷ số tài chính thường không tuân theo phân phối chuẩn, khiến các ước lượng hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) không đạt tính chất ước lượng tuyến tính không chệch tốt nhất (BLUE).
- Sự hiện diện của các giá trị ngoại lai (outliers) dễ gây ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroscedasticity), làm sai lệch các hệ số ước lượng OLS. Thêm vào đó, việc lựa chọn tỷ số tài chính mang nặng tính chủ quan của người phân tích.
Để khắc phục các bất cập này, tiếp cận đo lường hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency) thông qua việc đánh giá năng lực chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra dựa trên một công nghệ sản xuất xác định được áp dụng rộng rãi. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V), doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đối tượng doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán – nhóm doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ và đại diện cho năng lực sản xuất của ngành – hầu như chưa được đo lường hiệu quả kỹ thuật một cách hệ thống.
Đồng thời, ảnh hưởng của cơ chế Quản trị công ty đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam vẫn đang bị bỏ ngỏ. Mặc dù khung pháp lý về Quản trị công ty tại Việt Nam đã từng bước hình thành (Luật Doanh nghiệp 2005, 2014; Quyết định 12/2007/QĐ-BTC; Thông tư 121/2012/TT-BTC; tiếp cận nguyên tắc OECD), nhưng thực tế thực thi còn nhiều hạn chế. Các báo cáo đánh giá thực trạng như Báo cáo ROSC (Ngân hàng Thế giới, 2006), Báo cáo Thẻ điểm Quản trị công ty (UBCKNN và IFC, 2009–2011 với điểm trung bình chỉ đạt từ 42,5% đến 44,7%), và Báo cáo của ADB (2012–2013 với điểm trung bình 28,42% và 33,87%, xếp thấp nhất trong 6 quốc gia ASEAN) cho thấy thực hành quản trị công ty tại Việt Nam còn ở mức sơ khai. Tình trạng kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) và Tổng Giám đốc, cơ cấu sở hữu tập trung và vi phạm quyền lợi cổ đông nhỏ lẻ diễn ra phổ biến. Ngoài ra, việc thiếu vắng các kiểm định thực nghiệm dài hạn để so sánh hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn và DNN&V cũng là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá mức độ hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam, đồng thời điều tra mối quan hệ giữa Quản trị công ty và hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp niêm yết nhằm bổ sung cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp.
Luận án xác định 4 mục tiêu cụ thể:
- Đo lường hiệu quả kỹ thuật các doanh nghiệp niêm yết ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Xác định và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố thuộc Quản trị công ty đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp niêm yết ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Kiểm định sự khác biệt về mức độ hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam.
- Cung cấp các hàm ý cho nhà quản trị doanh nghiệp hướng đến việc cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Câu hỏi nghiên cứu
- Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang có mức hiệu quả kỹ thuật như thế nào? Mức độ hiệu quả kỹ thuật này thay đổi theo thời gian ra sao?
- Các nhân tố nào thuộc Quản trị công ty ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam? Và mức độ ảnh hưởng như thế nào?
- Có hay không sự khác biệt về mức độ hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết và các doanh nghiệp nhỏ và vừa?
- Hàm ý quản trị nào giúp cho các doanh nghiệp cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam. Đây là ngành có số lượng doanh nghiệp đông nhất trong khối sản xuất công nghiệp, chiếm gần 220 doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán (HNX và HOSE/HSX), đóng góp từ 12% đến 13% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- Phạm vi thời gian:
- Giai đoạn 2008 – 2014 đối với việc đo lường hiệu quả kỹ thuật và kiểm định tác động của Quản trị công ty ở các doanh nghiệp niêm yết.
- Giai đoạn 2008 – 2012 đối với việc kiểm định so sánh mức độ hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa (do dữ liệu điều tra DNN&V tại thời điểm thực hiện nghiên cứu được cập nhật đến năm 2012).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được tác giả điểm lại
Văn bản luận án tổng thuật các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhánh nội dung:
-
Phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động:
- Nhóm nghiên cứu chỉ ra hạn chế của tỷ số tài chính truyền thống và đề xuất tiếp cận hiệu quả kỹ thuật: Smith (1990), Abrache và cộng sự (2003), Feroz và cộng sự, Halkos và Tzeremes (2012), Faello (2015).
- Nhóm nghiên cứu thực nghiệm đo lường hiệu quả kỹ thuật tại Việt Nam: Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2002), Chu Ngọc Sơn và Kalirajan (2011), Đào Lê Thanh (2013), Phạm Khánh Linh và Nguyễn Khắc Minh (2014), Phạm Thái Hưng và cộng sự. Các nghiên cứu này chủ yếu khảo sát hiệu quả kỹ thuật của DNN&V hoặc phân tích theo hình thức sở hữu (nhà nước, tư nhân, FDI) và các yếu tố đầu vào, môi trường kinh doanh.
-
Quản trị công ty và hiệu quả hoạt động:
- Khung lý thuyết và tiêu chuẩn quốc tế: OECD (1999, 2004), H. Abdullah và Valentine (2009).
- Đánh giá thực trạng quản trị công ty tại Việt Nam: Ngân hàng Thế giới (Báo cáo ROSC, 2006), IFC và UBCKNN (Báo cáo Thẻ điểm Quản trị công ty 2009, 2010, 2011), ADB (2013, 2014), Cao Thị Vân Anh và Lê Công Hoa (2014), Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Văn Quý (2012), Nguyễn Thị Thủy (2016).
- Tác giả nhận định các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam khi xem xét quản trị công ty thường gắn với chỉ tiêu hiệu quả tài chính (Financial performance) hoặc giá trị doanh nghiệp (Firm value), rất ít nghiên cứu liên kết trực tiếp với hiệu quả kỹ thuật.
-
Mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả kỹ thuật:
- Nhánh quan điểm cho rằng doanh nghiệp lớn hiệu quả hơn nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô và khả năng phối hợp nguồn lực: Taymaz (2005), Yang và Chen (2009).
- Nhánh quan điểm nhấn mạnh tính linh hoạt của DNN&V, ít bị ảnh hưởng bởi xung đột đại diện phức tạp, dù gặp rào cản về vốn và quản lý: Gill và Biger (2012).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Đo lường và theo dõi biến động hiệu quả kỹ thuật chuyên biệt cho nhóm doanh nghiệp niêm yết ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2014 bằng cả hai phương pháp tham số (SFA) và phi tham số (DEA).
- Kiểm định ảnh hưởng của các đặc điểm Quản trị công ty (quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT, số lần họp HĐQT, quyền kiêm nhiệm) cùng với tỷ lệ nợ, quy mô và mức độ tập trung vốn lên hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp niêm yết.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm so sánh sự khác biệt về hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết và DNN&V trong cùng các phân ngành chế biến, chế tạo cấp 2, làm rõ rào cản tiêu thụ đầu ra của DNN&V thông qua phân tích kịch bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết người đại diện (Agency Theory): Nền tảng chính giải thích mối quan hệ giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người điều hành (HĐQT, Ban Giám đốc). Khi có sự phân tách quyền sở hữu và quyền quản lý, nguy cơ lạm dụng quyền lực, tư lợi và giảm tính minh bạch có thể xuất hiện, đặc biệt khi có sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc. Các cơ chế quản trị công ty (như tăng thành viên độc lập HĐQT) giúp giảm chi phí đại diện và nâng cao hiệu quả quản trị nguồn lực.
- Lý thuyết ràng buộc nguồn lực (Resource Dependence Theory): Giải thích vai trò của HĐQT và quy mô doanh nghiệp trong việc kết nối, huy động các nguồn lực khan hiếm từ môi trường bên ngoài để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Lý thuyết đo lường hiệu quả kỹ thuật: Dựa trên khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất (Production Possibility Frontier - PPF) và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc đạt được mức sản lượng đầu ra tối đa từ một tập hợp các yếu tố đầu vào xác định (output-oriented), hoặc sử dụng mức đầu vào tối thiểu để đạt được một mức đầu ra nhất định (input-oriented).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu được xây dựng trên quan điểm của trường phái hậu thực chứng (Postpositivism), kết hợp phân tích định lượng dựa trên mô hình kinh tế lượng:
-
Đo lường hiệu quả kỹ thuật:
- Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA): Tiếp cận tham số, tách biệt sai số ngẫu nhiên với thành phần phi hiệu quả kỹ thuật.
- Phương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA): Tiếp cận phi tham số, áp dụng mô hình lợi thế thay đổi theo quy mô (Variable Returns to Scale - VRS) để xác định điểm biên hiệu quả tương đối của các đơn vị ra quyết định (DMU).
-
Mô hình kiểm định nhân tố ảnh hưởng:
- Mô hình ảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật một giai đoạn (Technical inefficiency effect model) theo đề xuất của Battese và Coelli (1995) kết hợp với SFA.
- Mô hình hồi quy cắt cụt Bootstrap hai giai đoạn với DEA (Two-stage double-bootstrap DEA truncated regression) theo phương pháp của Simar và Wilson (2007) nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan nối tiếp của điểm số DEA.
-
Kiểm định so sánh hai nhóm doanh nghiệp:
- Kiểm định phương sai tổng thể và kiểm định giá trị trung bình hai mẫu độc lập (Independent Samples T-test) để so sánh điểm số hiệu quả kỹ thuật giữa nhóm doanh nghiệp niêm yết và DNN&V theo từng nhóm ngành và từng năm.
- Phương pháp phân tích kịch bản kết hợp SFA khi thay đổi biến đầu ra (Doanh thu thuần so với Giá trị sản xuất).
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
| Bộ dữ liệu | Quy mô mẫu | Giai đoạn | Nguồn thu thập |
|---|---|---|---|
| Mẫu đo lường HQKT doanh nghiệp niêm yết | 1.036 quan sát | 2008 – 2014 | Báo cáo tài chính kiểm toán của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên HNX và HOSE |
| Mẫu kiểm định tác động Quản trị công ty | 342 quan sát | 2008 – 2014 | Trích từ mẫu gốc, giữ lại các doanh nghiệp công bố đầy đủ thông tin về quản trị công ty |
| Mẫu so sánh DNNY và DNN&V | 3.759 quan sát DNN&V và 699 quan sát DNNY | 2008 – 2012 | 3 cuộc điều tra DNN&V (Viện CIEM, ILSSA, ĐH Copenhagen) và mẫu DNNY trong 4 nhóm ngành cấp 2 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Phần Mở Đầu
Chương 1 giới thiệu lý do hình thành đề tài, nhấn mạnh tính bức thiết của việc nâng cao năng lực quản trị công ty và năng lực sử dụng nguồn lực trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Luận án xác định rõ 4 mục tiêu nghiên cứu, 4 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi thời gian (2008–2014 đối với DNNY; 2008–2012 đối với so sánh DNN&V), phạm vi không gian (ngành chế biến, chế tạo). Chương này cũng thiết lập sơ đồ quy trình nghiên cứu tổng quát gồm 5 bước chính và nêu bật các đóng góp mới của đề tài về mặt học thuật và thực tiễn.
Chương 2: Khung Lý Thuyết và Các Mô Hình Nghiên Cứu
Chương 2 trình bày có hệ thống các khái niệm pháp lý và kinh tế về doanh nghiệp niêm yết (theo Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Chứng khoán 2012, Nghị định 58/2012/NĐ-CP) và DNN&V (theo Sách trắng DNN&V 2011). Luận án phân tích chi tiết cơ sở lý thuyết đo lường hiệu quả kỹ thuật (tiếp cận tham số SFA và phi tham số DEA), vấn đề lựa chọn biến đầu vào và đầu ra.
Chương này tổng kết các lý thuyết quản trị công ty (Lý thuyết người đại diện, Lý thuyết ràng buộc nguồn lực) và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, từ đó xây dựng các mô hình nghiên cứu và phát biểu hệ thống giả thuyết:
- Mối quan hệ giữa Quy mô HĐQT và HQKT.
- Mối quan hệ giữa Tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT và HQKT.
- Mối quan hệ giữa Số lần họp HĐQT và HQKT.
- Mối quan hệ giữa Quyền kiêm nhiệm (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc) và HQKT.
- Mối quan hệ giữa Tỷ lệ nợ và HQKT.
- Mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc Đặc điểm doanh nghiệp (Quy mô doanh nghiệp, Mức độ tập trung vốn) và HQKT.
- Giả thuyết về sự khác biệt mức độ HQKT giữa doanh nghiệp niêm yết và DNN&V.
Chương 3: Phương Pháp Nghiên Cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu kinh tế lượng:
- Xác định các biến đầu vào (như Lao động, Vốn/Tài sản cố định) và biến đầu ra (Doanh thu thuần, Giá trị sản xuất) cho mô hình đo lường hiệu quả kỹ thuật.
- Trình bày dạng hàm và kiểm định tỷ số hợp lý tổng quát (LR test) cho mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên SFA (dạng Cobb-Douglas hoặc Translog).
- Trình bày công thức ước lượng mô hình DEA-VRS và kỹ thuật hồi quy cắt cụt Bootstrap hai giai đoạn (Simar và Wilson, 2007) để xử lý biến phụ thuộc là điểm số hiệu quả DEA bị chặn trong khoảng (0, 1].
- Thiết lập mô hình ảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật đồng thời theo Battese và Coelli (1995).
- Mô tả quy trình kiểm định T-test hai mẫu độc lập nhằm so sánh giá trị trung bình hiệu quả kỹ thuật giữa DNNY và DNN&V trong 4 nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp 2: (i) Thực phẩm - Đồ uống; (ii) Hóa, dược liệu; (iii) Sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic & phi kim khác; (iv) Sản xuất máy móc thiết bị.
Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu
Chương 4 công bố toàn bộ số liệu và kết quả kiểm định kinh tế lượng:
-
Đo lường hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp niêm yết (1.036 quan sát, giai đoạn 2008 – 2014):
- Điểm hiệu quả kỹ thuật bình quân theo phương pháp SFA đạt hơn 31%.
- Điểm hiệu quả kỹ thuật bình quân theo phương pháp DEA đạt 42%, trong đó điểm số DEA có xu hướng giảm dần qua các năm nghiên cứu.
- Gần 80% số lượng doanh nghiệp niêm yết trong mẫu có mức hiệu quả kỹ thuật tương đối hàng năm dưới 40%.
-
Ảnh hưởng của Quản trị công ty và các nhân tố liên quan (342 quan sát):
- Quyền kiêm nhiệm: Việc Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Tổng Giám đốc có tác động âm (làm tăng phi hiệu quả kỹ thuật) có ý nghĩa thống kê trong mô hình SFA.
- Tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT: Có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến mức hiệu quả kỹ thuật tương đối trong mô hình DEA hồi quy cắt cụt Bootstrap hai giai đoạn.
- Tỷ lệ nợ: Có tác động âm có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kỹ thuật đo bằng SFA.
- Quy mô doanh nghiệp: Có tác động dương đến hiệu quả kỹ thuật.
- Mức độ tập trung vốn (tỷ lệ tài sản cố định/lao động): Có ảnh hưởng khác biệt giữa hai mô hình ước lượng.
-
Kiểm định so sánh giữa DNNY và DNN&V (3.759 quan sát DNN&V và 699 quan sát DNNY, giai đoạn 2008 – 2012):
- Hiệu quả kỹ thuật theo SFA của khối DNN&V dao động trong khoảng 52% – 54%, trong khi khối doanh nghiệp niêm yết đạt mức bình quân trên 80% trong các nhóm ngành so sánh.
- Kết quả đo lường bằng DEA cho thấy nhóm DNN&V có hiệu quả cao nhất cũng cần cắt giảm đến gần 42% chi phí đầu vào để đạt mức hiệu quả toàn diện tương đối.
- Kiểm định T-test khẳng định có bằng chứng thống kê cho thấy doanh nghiệp niêm yết có hiệu quả trung bình cao hơn DNN&V trong các phân nhóm ngành nghiên cứu.
- Phân tích kịch bản theo SFA cho thấy: Khi sử dụng biến đầu ra là Giá trị sản xuất, mức hiệu quả của DNN&V đạt trên 80%; nhưng khi đổi sang Doanh thu thuần, mức hiệu quả giảm xuống chỉ còn hơn 50%. Kết quả này phản ánh điểm nghẽn của DNN&V nằm ở khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Chương 5: Kết Luận – Đề Xuất Hàm Ý Quản Trị
Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm và đề xuất các nhóm hàm ý chính sách:
- Đối với doanh nghiệp niêm yết: Cần tách biệt rõ ràng vị trí Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc để tăng cường tính độc lập trong giám sát; tăng tỷ lệ thành viên độc lập và không điều hành trong HĐQT; kiểm soát đòn bẩy tài chính và duy trì tỷ lệ nợ ở ngưỡng an toàn.
- Đối với DNN&V và cơ quan hoạch định chính sách: Đề xuất các giải pháp hỗ trợ DNN&V tiếp cận thị trường, giải quyết khó khăn tiêu thụ đầu ra; khuyến khích các DNN&V tái cơ cấu, nâng cao năng lực quản trị để định hướng chuyển đổi thành công ty đại chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Hạn chế của đề tài: Dữ liệu DNNY dừng ở năm 2014, dữ liệu điều tra DNN&V dừng ở năm 2012; mẫu phân tích quản trị công ty bị giảm còn 342 quan sát do tình trạng công bố thông tin chưa đầy đủ; nghiên cứu chỉ giới hạn trong ngành chế biến, chế tạo.
Kết quả và những đóng góp mới
TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Bảng tổng hợp các nhân tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật (Chương 4)
| Nhân tố kiểm định | Mô hình SFA (Một giai đoạn) | Mô hình DEA (Bootstrap hai giai đoạn) | Chiều hướng tác động thực nghiệm |
|---|---|---|---|
| Quyền kiêm nhiệm (Chủ tịch HĐQT & TGĐ) | Có ý nghĩa thống kê | Không có ý nghĩa | Tác động âm đến HQKT (tăng phi hiệu quả) |
| Tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT | Không có ý nghĩa | Có ý nghĩa thống kê | Tác động dương đến HQKT tương đối |
| Tỷ lệ nợ | Có ý nghĩa thống kê | Không có ý nghĩa | Tác động âm đến HQKT |
| Quy mô doanh nghiệp | Có ý nghĩa thống kê | - | Tác động dương đến HQKT |
| Mức độ tập trung vốn | Có ý nghĩa thống kê | Có ý nghĩa thống kê | Tác động khác nhau giữa hai mô hình |
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án
- Tách bạch chức danh quản trị và điều hành: Doanh nghiệp niêm yết cần chấm dứt tình trạng Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc nhằm hạn chế lạm dụng quyền lực, giảm thiểu giao dịch tư lợi với các bên liên quan và bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ.
- Nâng cao tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT: Gia tăng số lượng thành viên độc lập, không tham gia điều hành trực tiếp để nâng cao chất lượng phản biện, giám sát và ra quyết định chiến lược.
- Quản trị cấu trúc vốn: Kiểm soát tỷ lệ nợ vay ở mức hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính và tránh áp lực chi phí lãi vay làm suy giảm hiệu quả kỹ thuật.
- Hỗ trợ thị trường đầu ra cho DNN&V: Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ kết nối thị trường tiêu thụ cho DNN&V, đồng thời khuyến khích các DNN&V mở rộng quy mô, hoàn thiện quản trị nội bộ để tiến tới niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Các hạn chế được ghi nhận trong văn bản
- Hạn chế về dữ liệu thời gian: Dữ liệu phân tích doanh nghiệp niêm yết dừng lại ở giai đoạn 2008 – 2014; dữ liệu so sánh DNN&V dừng lại ở năm 2012 do tính sẵn có của các cuộc điều tra DNN&V tại thời điểm nghiên cứu.
- Hạn chế về cỡ mẫu quản trị công ty: Từ mẫu gốc 1.036 quan sát của DNNY, số lượng quan sát đưa vào mô hình kiểm định quản trị công ty bị giảm xuống còn 342 quan sát do nhiều doanh nghiệp niêm yết chưa công bố đầy đủ thông tin về cơ cấu HĐQT và ban điều hành.
- Hạn chế về phạm vi ngành: Nghiên cứu chỉ tập trung trong phạm vi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chưa mở rộng sang các ngành công nghiệp khác hoặc khu vực dịch vụ.
Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo
- Cập nhật chuỗi thời gian nghiên cứu với các bộ dữ liệu mới hơn để đánh giá sự biến động của hiệu quả kỹ thuật trong các giai đoạn kinh tế tiếp theo.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành kinh tế khác ngoài ngành chế biến, chế tạo.
- Bổ sung các biến số quản trị công ty chuyên sâu hơn khi tính minh bạch và mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam được cải thiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên kinh tế/quản trị: Tham khảo cách kết hợp phương pháp tham số SFA (mô hình Battese & Coelli 1995) và phi tham số DEA (hồi quy cắt cụt Bootstrap hai giai đoạn theo Simar & Wilson 2007); kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng và phân tích kịch bản biên sản xuất.
- Nhà quản trị doanh nghiệp (DNNY và DNN&V): Tham khảo các bằng chứng thực nghiệm về tác hại của việc kiêm nhiệm chức danh, lợi ích của thành viên HĐQT độc lập, và nhận diện điểm nghẽn tiêu thụ đầu ra để tối ưu hóa việc phân bổ chi phí đầu vào.
- Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, UBCKNN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Sử dụng các số liệu về mức hiệu quả kỹ thuật thực tế (dưới 40%) và thực trạng tuân thủ quản trị công ty để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy tính minh bạch và ban hành các gói hỗ trợ DNN&V chuyển đổi thành công ty niêm yết.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn phương pháp đo lường hiệu quả kỹ thuật thay vì sử dụng các tỷ số tài chính truyền thống như ROA hay ROE?
Theo văn bản luận án, các tỷ số tài chính truyền thống bộc lộ bốn hạn chế cơ bản theo Faello (2015): (i) dễ xảy ra sai sót khi chỉ định tử số/mẫu số; (ii) không đồng nhất về chuẩn mực kế toán giữa các doanh nghiệp và thời kỳ; (iii) dữ liệu tỷ số không tuân theo phân phối chuẩn khiến ước lượng OLS bị chệch; (iv) sự xuất hiện của giá trị ngoại lai gây phương sai sai số thay đổi. Tiếp cận hiệu quả kỹ thuật (SFA và DEA) cho phép đo lường trực tiếp năng lực quản trị trong việc kết hợp và chuyển hóa các yếu tố đầu vào (vốn, lao động) thành đầu ra sản xuất dựa trên công nghệ xác định.
2. Mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của các doanh nghiệp niêm yết ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam đạt bao nhiêu trong giai đoạn 2008 – 2014?
Kết quả ước lượng trong luận án cho thấy mức hiệu quả kỹ thuật bình quân của các doanh nghiệp niêm yết ngành chế biến, chế tạo ở mức thấp: đạt hơn 31% theo phương pháp SFA và 42% theo phương pháp DEA. Đáng chú ý, kết quả từ DEA cho thấy hiệu quả có xu hướng giảm dần qua các năm và gần 80% số doanh nghiệp niêm yết trong mẫu có mức hiệu quả kỹ thuật tương đối hàng năm dưới 40%.
3. Những nhân tố nào thuộc Quản trị công ty tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp niêm yết?
Luận án tìm thấy hai nhân tố quản trị công ty có tác động có ý nghĩa thống kê:
- Quyền kiêm nhiệm (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc): Tác động âm đến hiệu quả kỹ thuật trong mô hình SFA (làm gia tăng mức độ phi hiệu quả kỹ thuật).
- Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT: Tác động dương đến hiệu quả kỹ thuật tương đối trong mô hình hồi quy cắt cụt Bootstrap hai giai đoạn với DEA.
4. Kết quả so sánh hiệu quả kỹ thuật giữa doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy điều gì?
Kết quả phân tích giai đoạn 2008 – 2012 chỉ ra rằng hiệu quả kỹ thuật theo SFA của khối DNN&V dao động từ 52% đến 54%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân trên 80% của khối doanh nghiệp niêm yết trong cùng phân ngành so sánh. Kiểm định T-test khẳng định có bằng chứng thống kê cho thấy doanh nghiệp niêm yết hoạt động hiệu quả hơn DNN&V, ủng hộ quan điểm cho rằng việc mở rộng quy mô và chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần niêm yết giúp nâng cao hiệu quả kỹ thuật.
5. Phân tích kịch bản theo SFA phát hiện điểm nghẽn nào trong hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa?
Khi sử dụng biến đầu ra là Giá trị sản xuất, mức hiệu quả kỹ thuật của DNN&V đạt trên 80%; tuy nhiên, khi chuyển sang biến đầu ra là Doanh thu thuần, mức hiệu quả giảm mạnh xuống chỉ còn hơn 50%. Kết quả này chứng minh năng lực sản xuất của DNN&V không thấp nhưng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thịnh Trường đã thực hiện đo lường có hệ thống mức độ hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam bằng việc kết hợp hai kỹ thuật SFA và DEA. Kết quả nghiên cứu xác nhận hiệu quả kỹ thuật của khối doanh nghiệp niêm yết nhìn chung còn thấp (bình quân 31% - 42%), đồng thời chứng minh thực nghiệm rằng việc kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo làm suy giảm hiệu quả kỹ thuật trong khi sự hiện diện của thành viên HĐQT độc lập mang lại tác động tích cực. Bên cạnh đó, kiểm định thực nghiệm khẳng định doanh nghiệp niêm yết có mức hiệu quả kỹ thuật vượt trội so với DNN&V và chỉ rõ khó khăn tiêu thụ đầu ra của khối DNN&V, tạo cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.