đặt vấn đề tìm hiểu bản chất của nêu vấn đề là dựa trên Luan van 9 tư duy sáng tạo. Qua đó tác giả hệ thống hóa các câu hỏi nêu vấn đề trong việc dạy tác phẩm. Tuy nhiên trong luận văn chưa thể hiện được việc vận dụng dạy học nêu vấn đề với các phương pháp dạy học khác như thế nào. - Luận văn thạc sĩ: Đặng Thị Trinh – Vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào dạy học một số bài thơ trữ tình ở lớp 11 Trường Trung Học Phổ Thông năm 2007.
Tác giả xem đây là một phương pháp hiện đại góp phần phát huy sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Tác giả đã vận dụng phương pháp này vào một số bài dạy thể loại trữ tình nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Tuy cách này có tạo được sự hứng thú và khả năng tư duy của học sinh nhưng chưa làm sáng tỏ tính chất của dạy học nêu vấn đề. - Luận văn thạc sĩ: Hoàng Ái Thư – Cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên Khoa May Thời Trang thuộc Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM.
Phương pháp dạy học chính là nền tảng của chất lượng đào tạo bao gồm xác định mục tiêu, thiết kế nội dung bài giảng, sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học, tổ chức quá trình dạy học, đánh giá kết quả học tập để hình thành kỹ năng và kỹ xảo cho học sinh. - Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Đức Huân – Dạy học giải quyết vấn đề phần lập trình đơn giản tại trường THCS Nguyễn Văn Triết thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương. Tác giả đã hệ thống được cơ sở lý luận về dạy học giải quyết vấn đề, các quan điểm tiếp cận, ưu và nhược điểm của dạy học giải quyết vấn đề. Qua dạy học giải quyết vấn đề cho thấy học sinh tham gia giải quyết vấn đề tích cực hơn, chủ động, sáng tạo trong học tập.
- Tóm lại, có thể thấy được những công trình nghiên cứu dạy học nêu vấn đề ngày càng nhiều và từng bước góp phần xác định cơ sở lí luận và thực tiễn để hoàn thiện phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này nhằm nâng cao chất lượng học tập cho từng môn cụ thể chưa được sự quan tâm nhiều. Vì vậy, đề tài này xin góp một phần nhỏ vào việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn, nhất là thực tiễn dạy mô đun Tiện cơ bản. NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ 1.
Cơ sở triết học - Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng thì mâu thuẫn là động lực của sự phát triển. Quá trình học tập của học sinh là quá trình nhận thức, để cho quá trình nhận thức này có hiệu quả thì cần phải tạo ra động lực nhận thức cho học sinh. Muốn vậy phải tạo ra mâu thuẫn nhận thức giữa những kiến thức đã biết và kiến thức chưa biết mà cần phải giải quyết. Trong đó kiến thức đã biết thì chưa đủ để giải quyết vấn đề mới.
Nhà lý luận dạy học Nga, Đanhilop nhấn mạnh: “Động lực của quá trình học tập là mâu thuẫn giữa nhiệm vụ nhận thức đặt ra trong quá trình dạy học với trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trình độ phát triển trí tuệ học sinh”[2]. Cơ sở tâm lí học - Theo các nhà tâm lí học, con người chỉ tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, có nghĩa là trong bất kì một dạng hoạt động nào khi con người đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải được khắc phục thì tư duy xuất hiện. Khó khăn này gọi là tình huống có vấn đề. Lúc này HS phát huy hết khả năng sáng tạo của mình để tiếp nhận và giải quyết vấn đề.
Như vậy, vấn đề trở thành nhu cầu cần giải quyết của HS, thôi thúc sự tìm tòi khám phá của HS. Nhà tâm lí học người Nga, X.Rubinstein đã khẳng định “tư duy thường bắt đầu bằng một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc mắc hay từ sự mâu thuẫn…”[2]. Rõ ràng nhìn từ góc độ tâm lí học, dhnvđ có khả năng khơi gợi sự hứng thú cũng như khả năng tư duy độc lập, tích cực chủ động học tập của HS. Cơ sở giáo dục - Phương pháp dạy học nêu vấn đề là dựa trên nguyên tắc mang tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của học sinh, trong hoạt động dạy học thì phải xuất phát từ nhu cầu, động cơ của học sinh hướng vào mục đích phát triển nhân cách cho học sinh mà trước hết là tạo ra và nâng cao hứng thú nhận thức ở học sinh.
Tạo mọi điều kiện để học sinh hoạt động một cách tốt nhất, học tập đạt được kết quả cao, không áp đặt học sinh và để cho học sinh là chủ thể tự quyết định chất Luan van 11 lượng học tập của bản thân nhằm phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh để khơi gợi động cơ học tập cho học sinh. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ. Dạy học nêu vấn đề - Theo V.Ôkôn: “Dạy học nêu vấn đề là tập hợp những hoạt động như tổ chức các tình huống có vấn đề, phát biểu vấn đề, giúp đỡ cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề, kiểm tra phép giải đó và cuối cùng điều khiển quá trình hệ thống hóa, củng cố những kiến thức tiếp thu được [9]. Kharlamop "Dạy học nêu vấn đề là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích học sinh nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình tìm hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới" [14].R Lenone: “dạy học nêu vấn đề là học sinh dưới sự chỉ đạo của thầy giáo tham gia vào việc giải quyết những vấn đề mới về nhận thức và thực tiễn trong hệ thống xác định, phù hợp với mục đích giáo dục và giáo dưỡng của nhà trường phổ thông” [18].
- Dạy học nêu vấn đề không phải là phương pháp mới, đây là phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học đã xuất hiện từ xa xưa. Dạy học nêu vấn đề phát huy được tính tích cực, chủ động, khơi gợi nhận thức của học sinh. Nếu như với phương pháp dạy truyền thống khác thì kiến thức đưa đến cho học sinh bằng con đường tái hiện, học sinh tiếp thu, ghi nhớ những kiến thức có sẵn rồi trình bày lại thì dạy học nêu vấn đề lại đặt học sinh vào vị trí chủ thể nhận thức, tự chiếm lĩnh tri thức, học sinh được giải phóng ra khỏi nguồn tri thức áp đặt để phát hiện và sáng tạo. - Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước của các nhà khoa học đã giải quyết được căn bản lí thuyết dạy học nêu vấn đề, tạo được cơ sở khoa học vững Luan van 12 chắc để từ đó vận dụng kiểu dạy học này vào giảng dạy trong nhà trường, thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp đang được đặt ra.
Phương pháp dạy học Thuật ngữ “phương pháp” được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Methodos” nghĩa là con đường, cách thức để đạt được mục đích nhất định. Phương pháp là một phạm trù của lý thuyết hoạt động có liên quan mật thiết với các phạm trù chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung hoạt động. Về phương diện triết học, phương pháp được coi là sự vận động của nội dung đến mục đích. Vì vậy phương pháp bao giờ cũng có tính mục đích, tính cấu trúc luôn gắn liền với nội dung.
“Phương pháp là cách thức, con đường đạt tới mục đích nhất định, là ý thức tự vận động bên trong của nội dung, là hình thức chiếm lĩnh tri thức” [11,tr. “Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung” [7,tr. Lence: “Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn” [5]. Babanski (1983): “phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [11,tr.
- Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan phát triển năng lực nhận thức” [18]. Tóm lại:“Phương pháp dạy học là con đường, là tổng hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học, trong quá trình dạy học, nhằm đạt được mục tiêu dạy học” [19]. Vấn đề - Vấn đề là những câu hỏi hay những nhiệm vụ nhận thức mà học sinh bằng những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa giải quyết được. Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần: Trạng thái Trạng thái Sự cản trở xuất phát đích Hình 1.
Ba thành phần đặc trưng của một vấn đề. - Trạng thái xuất phát: không mong muốn. - Trạng thái đích: trạng thái mong muốn. - Sự cản trở.
- Vấn đề dùng để chỉ nhiệm vụ nhận thức mà học sinh không thể giải quyết được bằng những tri thức và kinh nghiệm sẵn có, mà đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ độc lập, sáng tạo. Khi học sinh phải tự lực giải quyết vấn đề học tập, học sinh gặp nhiều khó khăn ngăn cản họ đến đích. Khó khăn này chính là cái thúc đẩy làm cho học sinh tìm tòi để giải quyết vấn đề. Như thế “vấn đề” trong dạy học nêu vấn đề chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, chính vì mâu thuẫn đó kích thích học sinh tìm tòi để giải quyết và kết quả thu được là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới.
- Bản chất của vấn đề chính là những mâu thuẫn biện chứng trong đối tượng nhận thức khách quan với chủ thể. Những mâu thuẫn này chứa đựng những nội dung mà chủ thể chưa biết hoặc biết rất ít, cần phải tìm kiếm. Vì vậy, chủ thể cần phản ánh những mâu thuẫn bên trong đối tượng nhận thức vào quá trình tư duy. - Hình thức diễn đạt của “vấn đề” là một câu hỏi hay là bài toán, nhưng không là bài toán nào cũng có vấn đề.