Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này đề cập đến lý do mà nhóm tác giả thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài, khung nghiên cứu và những đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung chương 2 trình bày khung lý thuyết và các vấn đề liên quan về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Nhóm tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến các nhóm yếu tố vi mô và vĩ mô sử dụng trong đề tài.
Sau khi phân tích các lý thuyết này cũng như khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan, nhóm tác giả xây dựng hai mô hình nghiên cứu: (1) Các yếu 7 tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ Thành phố Hồ Chí Minh, và (2) Ảnh hưởng của hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ đến tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương 3 phản ánh các phương pháp nghiên cứu định lượng mà nhóm tác giả lựa chọn để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu của đề tài một cách chi tiết, cụ thể. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nhóm tác giả tập trung phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận về những yếu tố có tác động đến hiệu quả DNVVN và tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, trong chương này, nhóm tác giả cũng thực hiện tổng quan về hoạt động của DNVVN và tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2019.
Chương 5: Kết luận và hàm ý Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ tiến hành đề xuất một số khuyến nghị, hàm ý về các yếu tố có liên quan và tác động đến hiệu quả hoạt động DNVVN và tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ở chương 2, nhóm tác giả trình bày khung lý thuyết làm cơ sở để phân tích và tìm kiếm các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, Thời gian hoạt động, Đòn bẩy tài chính, Tính thanh khoản, Cấu trúc tài sản, Tăng trưởng doanh thu, GDP, Lạm phát, Lãi suất, Chất lượng quản trị địa phương. Ngoài ra, để xây dựng mô hình nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế, nhóm tác giả cũng tiến hành lược khảo và biện luận chi tiết cho các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến hiệu quả doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Những vấn đề chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ 2.
Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ thông thường bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ theo thông lệ quốc tế viết tắt là SME (Small - Medium sized Enterprise). Muriithi (2017), Tuan (2020) cho rằng không có một định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp vừa và nhỏ mà mỗi quốc gia, mỗi tổ chức sẽ có định nghĩa khác nhau. Tewari và cộng sự (2013) cho rằng khi nhận dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng các tiêu chí chủ yếu: số lượng lao động; doanh thu hàng năm/tài sản/mức độ đầu tư, ngành hoạt động và tiêu chí khác (quyền sở hữu). Tại Mỹ, cơ quan quản lý doanh nghiệp nhỏ (Small Business Administration – SBA) định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 500 nhân viên và doanh thu hàng năm dưới 9 7 triệu đô (đối với ngành sản xuất doanh thu dưới 35,5 triệu đô).
Tương tự, Canada cũng xếp loại những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 500 người và doanh thu hàng năm dưới 50 triệu đô Canada là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Liên minh Châu Âu phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 250 người; và doanh thu hàng năm không vượt quá 50 triệu euro hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không vượt quá 43 triệu euro. Các quốc gia, tổ chức này đều chọn tiêu chí số lượng lao động và doanh thu/tài sản làm tiêu chí khi phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tương tự, theo luật thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Trung Quốc cũng chọn tiêu chí số lượng lao động và doanh thu/tài sản làm tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiêu chí này thay đổi biến động theo từng ngành hoạt động).
Ví dụ như đối với doanh nghiệp sản xuất tại Trung Quốc số lượng lao động dưới 2.000 người, doanh thu hàng năm không vượt quá 300 triệu nhân dân tệ (hoặc tài sản không vượt quá 400 triệu nhân dân tệ). Theo cách phân loại này thì doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc có quy mô lớn hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia khác. Malaysia chỉ chọn một trong hai tiêu chí là số lượng lao động hoặc doanh thu làm tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đối với Malaysia, doanh nghiệp sản xuất có số lượng lao động dưới 150 lao động (số lượng lao động ít hơn 50 đối với doanh nghiệp dịch vụ) hoặc doanh thu hàng năm dưới 12 triệu rigit.
Tương tự, Nhật Bản cũng chỉ chọn tiêu chi số lượng lao động hoặc vốn làm tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo đó, doanh nghiệp có số lượng lao động ít hơn 300 người, hoặc có số vốn ít hơn 300 triệu yên sẽ được xếp loại vào nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngưỡng tiêu chí này có thể thấp hơn đối với một số ngành dịch vụ, bán lẻ. Thế nhưng Thái Lan chỉ sử dụng số lượng lao động (dưới 200 lao động trong các ngành sử dụng nhiều lao động và ít hơn 100 lao động trong các ngành sử dụng nhiều vốn) là một tiêu chí để định 10 nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tương tự, Thổ Nhĩ Kỳ cũng xếp loại những doanh nghiệp vừa nhà nhỏ là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 250 người. Ngược lại, Ấn Độ chỉ sử dụng quy mô đầu tư là tiêu chí để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp sản xuất có mức đầu tư dưới 2,5 triệu USD, còn doanh nghiệp dịch vụ có mức đầu tư dưới 1,5 triệu USD. Trong khi đó, Ngân hàng thế giới (World Bank) lại sử dụng thêm tiêu chí quy mô vay vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo tổ chức này, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có số lượng lao động ít hơn 300 nhân viên; có tài sản hoặc doanh thu hàng năm dưới 15 triệu đô và có quy mô vay vốn dưới 1 triệu đô (đối với các nước tiên tiến là dưới 2 triệu đô). Tóm lại, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp độc lập, không phải công ty con, có số lượng lao động, doanh thu hàng năm, tài sản, mức độ đầu tư, quy mô vay vốn dưới một mức nhất định. Mỗi một quốc gia, tổ chức sẽ xây dựng một mức tiêu chí riêng khi định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó tiêu chí thường được sử dụng phổ biến là số lượng lao động, doanh thu hàng năm và tài sản.
Các ngưỡng tiêu chí này có xu hướng giảm đối với các quốc gia có thu nhập thấp. Ngoài ra, trong một số trường hợp các ngưỡng tiêu chí riêng này có thể thay đổi phụ thuộc vào ngành hoạt động của đơn vị đó. Tại Việt Nam, theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP ban hành ngày 11/03/2018 của Chính phủ thì tùy theo lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân loại dựa trên hai nhóm tiêu chí: số lượng lao động và doanh thu hàng năm; hoặc số lượng lao động và vốn. Cụ thể như sau: 11 Bảng 2.
Tiêu chí xác định loại hình Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Ngành Tiêu chí Loại DN Siêu nhỏ Nhỏ Vừa Nông, lâm nghiệp; Số lượng lao ≤ 10 ≤ 100 ≤ 200 nuôi trồng thủy sản, động* công nghiệp và xây dựng Doanh thu hàng ≤3 ≤ 50 ≤ 200 năm** Tổng vốn ** ≤3 ≤ 20 ≤ 100 Thương mại và dịch Số lượng lao ≤ 10 ≤ 50 ≤ 100 vụ động* Doanh thu hàng ≤ 10 ≤ 100 ≤ 300 năm** Tổng vốn ** ≤3 ≤ 50 ≤ 100 Ghi chú: * người; ** Tỷ đồng 2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Hashim và Abdulla (2000), doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có các đặc điểm sau: ban giám đốc không độc lập (người quản lý doanh nghiệp thường là chủ doanh nghiệp); phần vốn góp chủ yếu được góp bởi một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ các cá nhân có mối quan hệ kinh tế, huyết thống; khu vực hoạt động nhỏ lẻ; quy mô doanh nghiệp thường rất nhỏ so với ngành. Islam và cộng sự (2011) cũng cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu được góp vốn bởi một nhóm các thành viên gia đình hoặc một cá nhân góp vốn. Chính vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có cấu trúc hoạt động đơn giản do người chủ sở hữu thường kiêm luôn chức năng quản lý doanh nghiệp (Adam và cộng sự, 2012; Lampadarios, 2015).
Islam và cộng sự (2011), Lampadarios (2015) có một số đặc điểm khác biệt giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ so với các doanh 12 nghiệp lớn đó là: phần vốn góp, tính độc lập của ban giám đốc với người sở hữu doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, quy mô doanh nghiệp, thị trường hoạt động. Những đặc điểm này giúp doanh nghiệp doanh nghiệp vừa và nhỏ có được những lợi thế về khả năng thâm nhập thị trường do nắm bắt kịp thời nhu cầu và xu hướng khách hàng (Keskin và cộng sự, 2010). Do quy mô nhỏ nên sẽ linh hoạt chuyển đổi mô hình hoạt động để đối phó với các rủi ro hoặc tân dụng các cơ hội (Eggers, 2020). Nhờ cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, chủ doanh nghiệp thường là người điều hành dẫn đến các các quyết định liên quan giá cả, thị phần, khách hàng được thực thi nhanh chóng và linh hoạt (Eggers, 2020; Keskin và cộng sự, 2010).
Tuy nhiên, những đặc điểm này cũng khiến cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có phải đối mặt với một số khó khăn thách thức. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, giá trị tài sản đảm bảo không cao dẫn đến khó khăn trong việc trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài (Kama và Flanagan, 2014; Lampadarios, 2015; Murithi, 2017). Thêm vào đó, năng lực quản lý, điều hành của nhà quản lý/ chủ doanh nghiệp thường yếu kém, hoặc dẫn đến xung đột về lợi ích (Kama và Flanagan, 2014; El Kalak và Hudson, 2016; Murithi, 2017).