CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1. Giới thiệu tác giả 1. Giới thiệu chung về tác giả Đặng Phong (4 tháng 11 năm 1937 - 20 tháng 8 năm 2010) là một nhà sử học kinh tế người Việt Nam. Ông lần lượt tốt nghiệp Đại học Hà Nội vào năm 1960 rồi sau đó là Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội vào 4 năm sau.
Không chỉ từng làm Trưởng phòng Lịch sử Kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Thị trường & Giá cả, ông còn là giảng viên thỉnh giảng của nhiều trường đại học ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đặng Phong được gọi là “cuốn từ điển sống” về kinh tế Việt Nam với hơn 40 năm nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt và là tác giả của hơn 30 công trình, đặc biệt là về thời kỳ bao cấp, kinh tế Việt Nam thời hậu tái thống nhất cng như những cuộc “phá rào” nhằm thoát khỏi ràng buộc của thời đó và giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi Mới. Sự nghiệp Đặng Phong làm việc tại Viện Kinh tế Việt Nam với tư cách là một nhà kinh tế học chuyên biên khảo lịch sử kinh tế, Chủ nhiệm chương trình “65 năm kinh tế Việt Nam 1945 - 2010”, Chủ nhiệm các đề tài cấp bộ Biên niên kinh tế Việt Nam, 2008 - 2009, Từ đổi mới đến tư duy kinh tế, 2005 - 2006, Những mi đột phá trong Kinh tế Việt Nam, 2003 - 2004; ủy viên Hội đồng Khoa học, Trưởng phòng Lịch sử Kinh tế. Ông còn từng là Phó Tổng Biên tập Tạp chí Thị trường & Giá cả trong những năm 1983 - 1995, cộng tác viên của Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), Chủ tịch Tiểu ban Kinh tế Euro - Viet III, Amsterdam vào năm 1997, chuyên gia tư vấn cho Viện Hàn lâm Khoa học Cuba.
Năm 1991, Đặng Phong tốt nghiệp khóa đào tạo nâng cao, Học viện Kinh tế Địa Trung Hải, Montpellier, Pháp. Một số tác phẩm Với hơn 40 năm nghiên cứu, một số công trình nghiên cứu của Đặng Phong đã được xuất bản dưới dạng sách in, số khác vẫn còn được lưu giữ. • Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội, xuất bản 1970 • Tư duy Kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 - 1989, NXB Tri thức, 2008 • 5 đường mòn Hồ Chí Minh, NXB Tri thức, 2008 • Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 - 1989- Nhật ký thời bao cấp, NXB Tri thức, 2009 5 • “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới, NXB Tri thức, 2009 • …… 2.
Giới thiệu tác phẩm 2. Giới thiệu chung Sau “Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục” 1975 - 1989, xuất bản năm 2008, tái bản năm 2009 với nhiều bổ sung và tên mới “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 - 1989 - Nhật ký thời bao cấp” (NXB Tri Thức, 476 trang), sử gia kinh tế Đặng Phong đã cho ra tiếp theo “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới” (NXB Tri Thức 2009, 534 trang). Công trình này giới thiệu 20 điển cứu (case studies) trong tổng số gần một trăm trường hợp phá rào của nền kinh tế Việt Nam thời tiền Đổi mới ở các lĩnh vực: nông nghiệp (khởi đi từ khoán ở tỉnh Vĩnh Phú cho đến nông trường Sông Hậu), công nghiệp (từ Nhà máy dệt Nam Định đến Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội), phân phối lưu thông (từ Công ty lương thực Thành phố Hồ Chí Minh đến cơ chế một giá và xóa bỏ tem phiếu của tỉnh Long An), ngoại thương (từ các ‘imex’ đến vai trò đầu tàu của Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh). Mục tiêu của tác phẩm Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới.
Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào”. Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản c kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới. Mục tiêu của tác phẩm này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó. Một số cuộc “phá rào” tiêu biểu trong tác phẩm Tác giả lấy lại để đưa vào khá nhiều cuộc phá rào ngoạn mục và tiêu biểu như: • Khoán ở Vĩnh Phúc.
• Khoán ở Nông trường Sông Hậu • Đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định. • Đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội. • Khoán ở Công ty Xe khách Thành phố Hồ Chí Minh. 6 • Cuộc đấu tranh kiên trì gian khổ 20 năm để sửa đổi hệ thống giá.
• Những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài… Ngoài phần lớn những chương mục do tác giả trực tiếp khảo sát và biên soạn, tác giả cng lựa chọn để đưa vào đây 3 chương đã tiến hành cùng các đồng nghiệp trẻ, như chương Xí nghiệp Dệt Thành Công (viết cùng bạn Cao Tuấn Phong), Cơ chế một giá của Long An (viết cùng bạn Ngọc Thanh), Kho bạc (viết cùng bạn Lê Mai). TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC QUÁ TRÌNH “PHÁ RÀO” (1975 - 1980) VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA VỚI “PHÁ RÀO” 2. Mục tiêu và kỳ vọng của nước ta sau ngày giải phóng 2. Bối cảnh nước ta sau ngày giải phóng Chiến thắng Mùa xuân năm 1975 đã mở ra nhiều cơ hội tuyệt vời cho cả nước: Ngày 30/04/1975, Sài Gòn được giải phóng.
Vài ngày sau đó, toàn bộ phần còn lại của miền Nam Việt Nam đã ngừng tiếng súng, quân đội Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, nộp v khí cho chính quyền cách mạng. Ở tất cả các nơi, chính quyền về tay Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, việc tiếp quản đã diễn ra nhanh chóng và êm thấm, không đổ máu. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, tiến hành thống nhất 2 chính quyền khác nhau ở 2 miền là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam thông qua hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (8/1975). Sau hơn 21 năm chia cắt, hơn 30 năm đấu tranh giành lại chính quyền, đất nước ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất.
Đây chính là tiền đề để chúng ta xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội dựa trên các tiềm năng như: Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi, tuy diện tích nhỏ, nhưng chứa đựng tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản lớn, vốn được ví là nước có “rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu”. Hơn nữa, sau khi giải phóng miền Nam, nước ta tiếp nhận hệ thống cơ sở hạ tầng tại các nhà máy xí nghiệp cùng lực lượng công nhân đã có ở đó là yếu tố thuận lợi giúp nền kinh tế nước ta phát triển. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, nguồn lực kinh tế xã hội ở trình độ thấp và hệ thống cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu sự hỗ trợ, bị các thế lực thù địch bao vây cấm vận. Ngoài ra, do tình hình chính trị hơn 20 năm bị thống trị dưới tư tưởng của Tư bản chủ nghĩa.
Có thể nhận thấy miền Nam tuy một mặt bị chiến tranh tàn phá khốc liệt nhưng mặt khác, nền kinh tế và đời sống đã bị ảnh hưởng của kinh tế thị trường. Từ các thói quen trong quan hệ hàng hóa, tiền tệ đến những cơ cấu hạ tầng, thiết chế tài chính ngân hàng đã làm cho cả sản xuất và tiêu dùng gắn với một mô hình kinh tế thị trường hiện đại. Tóm lại, sau chiến thắng oanh liệt 30/04/1975, Việt Nam trở thành một đất nước thống nhất, hòa bình. Từ đây, Nam - Bắc đã có khả năng hỗ trợ cho nhau để phục hồi, 8 đi lên tiến kịp và sánh vai cùng thế giới.
Đó là thời cơ để gây dựng một sự đồng thuận trên phạm vi cả nước trong phấn khởi, trong yên vui, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai, hàn gắn những vết thương về kinh tế, xã hội và tinh thần. Mục tiêu và kỳ vọng của nước ta Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, họp từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 9 năm 1975, Báo cáo chính trị tại Hội nghị đã nhấn mạnh mục tiêu đến đấu tranh giai cấp, cải tạo, dẹp bỏ những thành phần kinh tế c, khẩn trương xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa… Hội nghị đã ra Nghị quyết khẳng định chủ trương cải tạo, xóa bỏ những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh tế theo kiểu miền Bắc như sau: • Đẩy mạnh xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế theo hướng cả nước cùng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. • Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp phải đi theo con đường hợp tác hóa thủ công nghiệp tiến hành từng bước, tích cực và vững chắc. • Đối với kinh tế tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng.
• Trước mắt cần xây dựng một số hợp tác xã thí điểm để rút kinh nghiệm. Ở những nơi chưa điều điều kiện xây dựng hợp tác xã thì ra sức phát triển các tổ đổi công vần công. Một năm sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 24 diễn ra, tháng 12 năm 1976, Đại hội Đảng lần thứ IV họp và xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối phát triển công nghiệp nước ta trong giai đoạn mới như sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp”.
Đại hội cng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976-1980).