Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Các lý thuyết chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. Thuật ngữ “cạnh tranh” hoặc “năng lực cạnh tranh” (tiếng Anh thường sử dụng là competitiveness) thường được bàn luận trong các sách, báo, tạp chí.
Thuật ngữ này được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Từ quan điểm cạnh tranh cổ điển cho đến quan điểm cạnh tranh hiện đại Quan điểm cạnh tranh cổ điển: Các quan điểm cạnh tranh cổ điển xuất phát từ thế kỷ 17, đến cuối thế kỷ 18 mới phát triển mạnh mẽ, gắn liền tên tuổi của một số nhà kinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Jhon Stuart Mill, Karl Marx.… Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh, ông cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp các hoạt động kinh tế một cách nhịp nhàng và có lợi cho xã hội. Cạnh tranh kích thích người lao động rèn luyện và nâng cao kỹ năng [79, tr. Còn Theo Jhon Stuart Mill, cạnh tranh không phải là yếu tố kích thích đưa vào mong muốn, nhưng cạnh tranh là cần thiết.
Ông cho rằng, cá nhân có chủ quyền đối với mình, đối với thân thể, tư tưởng của mình với điều kiện không làm phương hại đến bất kỳ ai [79, tr. Theo giáo trình Kinh tế Chính trị học Mác-Lê Nin (2002) [29] thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất- kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Quan điểm cạnh tranh hiện đại: Theo Porter M., Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Ông đã là đề xuất mô hình 5 áp lực: sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; mối đe doạ về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ xuất hiện các sản phẩm thay thế; vai trò của các công ty bán lẻ và cuối cùng là các nhà cung cấp đầy quyền lực.
Porter đã đề xuất mô hình kim cương để đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia dựa vào phân tích các yếu tố: vốn, chiến lược, nhu cầu 9 thị trường, sự phát triển ngành dịch vụ hỗ trợ và 2 yếu tố tác động là chính phủ và cơ hội [42, tr.Tuy nhiên, quan điểm của Porter M. không được một số tác giả đồng tính, họ cho rằng cạnh tranh là cuộc chiến giành cơ hội trong tương lai nên không thể dùng mô hình “5 yếu tố” của Michael Porter để phân tích. Quan điểm cạnh tranh này được xây dựng trên cơ sở của vật lý học của thế kỷ 19 với chủ trương “kinh tế hài hòa”. Giá cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất do cung cầu thị trường quyết định.
Hành vi có tính toán trên thị trường về phía cầu là người tiêu dùng tìm cách được thỏa mãn tối đa [79, tr. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh: Có các nghiên cứu của Krugman [128, tr. 10]; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế; Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ; Có nhiều tác giả như M.Ketels,[44] đã thảo luận năng lực cạnh tranh, các vấn đề xung quanh năng lực cạnh tranh, quan điểm về năng lực cạnh tranh……. Năng lực cạnh tranh ngành Hiện nay có các quan điểm và góc nhìn khác nhau về năng lực cạnh tranh ngành: Đối với một ngành, năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp.
Theo Liên Hiệp Quốc, năng lực cạnh tranh của một ngành có thể được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành [165]. Theo Porter (2008) [27] Ngành là một nhóm các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm thay thế gần gũi cho nhau. Theo Van Duren (1991) [167] Năng lực cạnh tranh cấp ngành là năng lực duy trì được lợi nhuận trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhìn chung khi nói tới năng lực cạnh tranh cấp ngành thì các nghiên cứu chủ yếu nói tới ở phạm vị rộng lớn, ám chỉ tới sự mạnh, yếu của một lĩnh vực, sản phẩm trên phạm vi quốc gia hoạt động trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong ngành đó là tập hợp những doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất, công nghệ, phương thức sản xuất giống nhau, tương tự nhau, cung cấp sản phẩm giống nhau, tương tự nhau ra 10 thị trường để cạnh tranh với nhau. Như vậy bản chất của năng lực cạnh tranh của ngành là năng lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước hoặc quốc tế nhằm tạo ra và duy trì lợi nhuận, hiệu suất cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng nói chung Về các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh ngành thì có các nghiên cứu như: Nghiên cứu của Sajee B.Nghiên cứu Michael E.Porter trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” [42], ông đã đưa ra mô hình kim cương đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự thịnh vượng của một quốc gia: Điều kiện cầu; Vai trò chính phủ; Sự ngẫu nhiên; Điều kiện yếu tố sản xuất; Các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp hỗ trợ; Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của Công ty. Tác giả đã mở rộng mô hình kim cương của Porter trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới.
Dunning đã cho rằng mô hình kim cương cũ không còn chính xác trong khi đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia/ngành trong bối cảnh trao đổi thương mại, đầu tư và hợp tác quốc tế. Vì vậy Dunning đã đưa thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của quốc gia/ngành trong bối cảnh mới. Nelson [126], nghiên cứu năng lực cạnh tranh dưới ba cấp độ là cấp quốc gia, cấp ngành, cấp địa phương và doanh nghiệp và ảnh hưởng của đổi mới công nghệ tới các cấp độ năng lực cạnh tranh. Các nghiên cứu về ngành dệt may, nâng cao năng lực ngành dệt may Ngành dệt may là ngành có truyền thống lâu đời trên toàn cầu.
Đã có những nghiên cứu khác nhau về dệt may của các quốc gia trên thể giới. Đặc biệt là các quốc gia có thế mạnh về dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Nam Á, ASEAN. Đáng giá về ngành dệt may các nước có các nghiên cứu như: ngành công nghiệp dệt may Indonexia (2007) của tác giả Wu Chongbo [169]; Zhiming Zhang, Chester and Ning Cao(2004) [173]; Bài viết của tác giả Mohammed Ziaul Haider (2007) về cạnh tranh của ngành công nghiệp may Bangladesh ở các thị trường lớn [135]; Balasubramanyam(2005): Bài viết đã so sánh về sự xuất khẩu của ngành công nghiệp dệt và may mặc tại Ấn Độ và Trung Quốc bằng các lợi thế so sánh và chỉ số tương đồng Kreinin-Finger [168]; tác giả Michaela D. Platzer: Sản xuất dệt của Hoa Kỳ và Hiệp định TPP(2013), bài viết đã đưa ra các nhận định về sự phát triển của ngành dệt Mỹ khi tham gia TPP [134]; M.Zakir Hossain(2010): Báo cáo về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam [132], tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, nhận định các vấn đề của ngành dệt may Việt Nam; Vanzetti, David and Pham Lan Huong (2014), "Quy tắc xuất xứ , tiêu chuẩn lao động , và TPP", nghiên cứu đã đánh giá tác động của TPP đến ngành dệt may, ảnh hưởng của quy tắc xuất xứ đến ngành dệt may, tiêu chuẩn về lao động trong TPP sẽ ảnh hưởng nhưng thế nào đến lao động Việt Nam bằng phương pháp nghiên cứu định lượng[89] ; Fukunishi và Yamagata (2014): " Ngành công nghiệp may ở các nước có thu nhập thấp: Một con đường đi lên công nghiệp hóa", nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của ngành dệt may đối với các nước kém phát triển, xu thế dịch chuyển của ngành dệt may từ nơi có chi phí cao đến nơi có chi phí thấp [120]; Ingvild Bakken (2014): "Nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn may mặc: Một phân tích về cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển Châu Á với Trung Quốc trong xuất khẩu hàng may mặc", Nghiên cứu đã tập trung phân tích chuỗi giá trị dệt may của Trung Quốc so với các quốc gia đang phát triển của chau Á, nhận định những vấn đề của dệt may Trung Quốc [123]; Scott H.
Pham (2014): Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Một cơ hội cho Việt Nam để giảm sự phụ 12 thuộc kinh tế của Trung Quốc", tác giả đã phân tích những cơ hội mà TPP mang lại cho Việt Nam, phân tích những lợi thế của một số ngành khi Việt Nam tham gia TPP, tác giả cũng nhận định đây là cơ hội để Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc [162]; Viện Peterson về kinh tế quốc tế (2016):"Đánh giá Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - Tập 1: Tiếp cận thị trường và các vấn đề liên ngành"; Nghiên cứu này đã phân tích những tác động của TPP đến nền kinh tế của các thành viên, tác động đến một số ngành cụ thể của các quốc gia [148]; Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Petri, Peter A., Michael Plummer, and Fan Zai (2012): "Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương : Đánh giá định lượng" [149]; Nguyen Tien Dung (2015): "Hội nhập của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực và một số gợi ý cho RCEP [114]; … Những nghiên cứu này đã đi phân tích chuỗi giá trị ngành dệt may của các quốc gia, toàn cầu, tác động và ảnh hưởng của các hiệp định thương mại tự do đến nền kinh tế của một số quốc gia thành viên, đến ngành dệt may, môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến ngành…. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành. Lý luận về cạnh tranh thì có nghiên cứu của Tôn Thất Nguyễn Thiêm, [76, tr.
117, 296, 297]; hay năng lực cạnh tranh của Bạch Thụ Cường [9]….