Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác xuyên thái bình dương

Luận văn thạc sĩ phân tích chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2016

160
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2. Các lý thuyết chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.3. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng nói chung

1.4. Các nghiên cứu về ngành dệt may, nâng cao năng lực ngành dệt may

1.5. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.6. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành

1.7. Các nghiên cứu về ngành dệt may và cạnh tranh dệt may

1.8. Khoảng trống cần nghiên cứu

1.9. Đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu

1.10. Khung nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DỆT MAY

2.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành

2.2. Khái niệm về cạnh tranh

2.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh

2.4. Các cấp độ năng lực cạnh tranh

2.5. Các quan điểm về ngành và đánh giá năng lực cạnh tranh ngành

2.6. Vai trò và đặc điểm của ngành dệt may

2.6.1. Vai trò của ngành dệt may

2.6.2. Đặc điểm của ngành dệt may

2.7. Các cấp độ cạnh tranh của ngành dệt may

2.8. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh ngành dệt may

2.9. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may

2.10. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may của một số quốc gia

2.10.1. Kinh nghiệm của các quốc gia Đông Á

2.10.2. Kinh nghiệm của các quốc gia Nam Á

2.10.3. Kinh nghiệm của các quốc gia ASEAN

2.11. Bài học rút ra để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

3.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam

3.1.1. Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam

3.1.2. Thị trường và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam

3.1.3. Chuỗi cung ứng của ngành dệt may Việt Nam

3.2. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam

3.2.1. Các điều kiện về yếu tố sản xuất của ngành dệt may

3.2.2. Cầu thị trường

3.2.3. Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của công ty trong ngành dệt may

3.2.4. Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ ngành dệt may

3.2.5. Đầu tư nước ngoài đối với ngành dệt may

3.3. Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương thông qua các chỉ tiêu

3.3.1. Thị phần xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam

3.3.2. Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam

3.3.3. Doanh thu của ngành dệt may

3.3.4. Lợi nhuận của ngành dệt may

3.3.5. Lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam

3.3.6. Nghiên cứu và phát triển

3.3.7. Đánh giá chung năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

3.3.8. Những kết quả đạt được

3.3.9. Nguyên nhân của hạn chế

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

4.1. Các vấn đề đặt ra để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.1.1. Dệt may các nước thành viên Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương

4.1.2. Tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đến ngành dệt may Việt Nam

4.1.3. Những vấn đề đặt ra cho ngành dưới góc độ năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam theo yêu cầu của Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương

4.1.4. Phân tích SWOT của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định xuyên Thái Bình Dương

4.2. Quan điểm, định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.2.1. Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.2.2. Định hướng phát nâng cao năng lực cạnh tranh dệt may khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.3.1. Đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng suất lao động

4.3.2. Xây dựng chuỗi giá trị và ngành hỗ trợ cho ngành dệt may

4.3.3. Xây dựng và nâng cấp cụm ngành, tăng cường liên kết và hợp tác trong cụm ngành dệt may

4.3.4. Giải pháp về cơ chế, chính sách của Nhà Nước

4.3.5. Xây dựng thương hiệu cho ngành dệt may, tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp trong ngành

4.4. Điều kiện để thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

4.4.1. Đối với Nhà nước

4.4.2. Đối với Hiệp hội dệt may, Hiệp hội bông sợi Việt Nam

4.4.3. Đối với các doanh nghiệp dệt may

Tóm tắt

I. Năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam đang được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu như thị phần xuất khẩu, năng suất lao động, và lợi thế so sánh. Trong bối cảnh tham gia Hiệp định TPP, ngành dệt may Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức như năng suất lao động thấp, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ của TPP, từ đó hạn chế lợi ích từ thuế suất ưu đãi.

1.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh

Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam cho thấy nhiều bất cập. Năng suất lao động thấp, tỷ lệ nội địa hóa chỉ trên 50%, và giá trị gia tăng thấp do chủ yếu tập trung vào gia công xuất khẩu. Các doanh nghiệp FDI vượt trội hơn so với doanh nghiệp trong nước về năng lực sản xuất và doanh thu xuất khẩu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao năng lực cạnh tranh để tận dụng cơ hội từ Hiệp định TPP.

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may bao gồm điều kiện sản xuất, cầu thị trường, và đầu tư nước ngoài. Việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt từ các nước không thuộc TPP, tạo ra rủi ro lớn. Ngoài ra, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và liên kết cụm ngành yếu kém cũng là những thách thức cần được giải quyết.

II. Hiệp định TPP và tác động đến ngành dệt may

Hiệp định TPP mang lại cả cơ hội và thách thức cho ngành dệt may Việt Nam. Theo nghiên cứu của Peter Petri (2013), nếu Việt Nam tham gia TPP, kim ngạch xuất khẩu dệt may có thể tăng thêm 12,9 tỷ USD vào năm 2025. Tuy nhiên, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ của TPP đòi hỏi ngành dệt may phải cải thiện chuỗi cung ứng và tăng tỷ lệ nội địa hóa.

2.1. Cơ hội từ TPP

Hiệp định TPP mở ra cơ hội lớn cho ngành dệt may Việt Nam thâm nhập thị trường các nước thành viên với thuế suất ưu đãi. Điều này giúp tăng kim ngạch xuất khẩu và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, ngành dệt may cần cải thiện chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao.

2.2. Thách thức từ TPP

Thách thức lớn nhất từ Hiệp định TPP là yêu cầu về quy tắc xuất xứ. Việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ các nước không thuộc TPP khiến ngành dệt may khó đáp ứng yêu cầu này. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các nước thành viên khác cũng đòi hỏi ngành dệt may Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

III. Chiến lược phát triển ngành dệt may

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may trong bối cảnh tham gia Hiệp định TPP, cần tập trung vào các giải pháp như đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, và xây dựng chuỗi giá trị bền vững. Các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành.

3.1. Đầu tư công nghệ và nhân lực

Đầu tư vào công nghệ dệt may hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng công nghệ mới giúp tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm, từ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường quốc tế.

3.2. Xây dựng chuỗi giá trị

Xây dựng chuỗi giá trị bền vững và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành là giải pháp quan trọng. Việc phát triển các cụm ngành dệt may và tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng tối đa cơ hội từ Hiệp định TPP.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Các lý thuyết chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. Thuật ngữ “cạnh tranh” hoặc “năng lực cạnh tranh” (tiếng Anh thường sử dụng là competitiveness) thường được bàn luận trong các sách, báo, tạp chí.

Thuật ngữ này được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Từ quan điểm cạnh tranh cổ điển cho đến quan điểm cạnh tranh hiện đại Quan điểm cạnh tranh cổ điển: Các quan điểm cạnh tranh cổ điển xuất phát từ thế kỷ 17, đến cuối thế kỷ 18 mới phát triển mạnh mẽ, gắn liền tên tuổi của một số nhà kinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Jhon Stuart Mill, Karl Marx.… Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh, ông cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp các hoạt động kinh tế một cách nhịp nhàng và có lợi cho xã hội. Cạnh tranh kích thích người lao động rèn luyện và nâng cao kỹ năng [79, tr. Còn Theo Jhon Stuart Mill, cạnh tranh không phải là yếu tố kích thích đưa vào mong muốn, nhưng cạnh tranh là cần thiết.

Ông cho rằng, cá nhân có chủ quyền đối với mình, đối với thân thể, tư tưởng của mình với điều kiện không làm phương hại đến bất kỳ ai [79, tr. Theo giáo trình Kinh tế Chính trị học Mác-Lê Nin (2002) [29] thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất- kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Quan điểm cạnh tranh hiện đại: Theo Porter M., Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Ông đã là đề xuất mô hình 5 áp lực: sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; mối đe doạ về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ xuất hiện các sản phẩm thay thế; vai trò của các công ty bán lẻ và cuối cùng là các nhà cung cấp đầy quyền lực.

Porter đã đề xuất mô hình kim cương để đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia dựa vào phân tích các yếu tố: vốn, chiến lược, nhu cầu 9 thị trường, sự phát triển ngành dịch vụ hỗ trợ và 2 yếu tố tác động là chính phủ và cơ hội [42, tr.Tuy nhiên, quan điểm của Porter M. không được một số tác giả đồng tính, họ cho rằng cạnh tranh là cuộc chiến giành cơ hội trong tương lai nên không thể dùng mô hình “5 yếu tố” của Michael Porter để phân tích. Quan điểm cạnh tranh này được xây dựng trên cơ sở của vật lý học của thế kỷ 19 với chủ trương “kinh tế hài hòa”. Giá cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất do cung cầu thị trường quyết định.

Hành vi có tính toán trên thị trường về phía cầu là người tiêu dùng tìm cách được thỏa mãn tối đa [79, tr. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh: Có các nghiên cứu của Krugman [128, tr. 10]; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế; Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ; Có nhiều tác giả như M.Ketels,[44] đã thảo luận năng lực cạnh tranh, các vấn đề xung quanh năng lực cạnh tranh, quan điểm về năng lực cạnh tranh……. Năng lực cạnh tranh ngành Hiện nay có các quan điểm và góc nhìn khác nhau về năng lực cạnh tranh ngành: Đối với một ngành, năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp.

Theo Liên Hiệp Quốc, năng lực cạnh tranh của một ngành có thể được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành [165]. Theo Porter (2008) [27] Ngành là một nhóm các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm thay thế gần gũi cho nhau. Theo Van Duren (1991) [167] Năng lực cạnh tranh cấp ngành là năng lực duy trì được lợi nhuận trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhìn chung khi nói tới năng lực cạnh tranh cấp ngành thì các nghiên cứu chủ yếu nói tới ở phạm vị rộng lớn, ám chỉ tới sự mạnh, yếu của một lĩnh vực, sản phẩm trên phạm vi quốc gia hoạt động trên thị trường trong nước và quốc tế.

Trong ngành đó là tập hợp những doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất, công nghệ, phương thức sản xuất giống nhau, tương tự nhau, cung cấp sản phẩm giống nhau, tương tự nhau ra 10 thị trường để cạnh tranh với nhau. Như vậy bản chất của năng lực cạnh tranh của ngành là năng lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước hoặc quốc tế nhằm tạo ra và duy trì lợi nhuận, hiệu suất cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng nói chung Về các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh ngành thì có các nghiên cứu như: Nghiên cứu của Sajee B.Nghiên cứu Michael E.Porter trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” [42], ông đã đưa ra mô hình kim cương đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự thịnh vượng của một quốc gia: Điều kiện cầu; Vai trò chính phủ; Sự ngẫu nhiên; Điều kiện yếu tố sản xuất; Các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp hỗ trợ; Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của Công ty. Tác giả đã mở rộng mô hình kim cương của Porter trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới.

Dunning đã cho rằng mô hình kim cương cũ không còn chính xác trong khi đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia/ngành trong bối cảnh trao đổi thương mại, đầu tư và hợp tác quốc tế. Vì vậy Dunning đã đưa thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của quốc gia/ngành trong bối cảnh mới. Nelson [126], nghiên cứu năng lực cạnh tranh dưới ba cấp độ là cấp quốc gia, cấp ngành, cấp địa phương và doanh nghiệp và ảnh hưởng của đổi mới công nghệ tới các cấp độ năng lực cạnh tranh. Các nghiên cứu về ngành dệt may, nâng cao năng lực ngành dệt may Ngành dệt may là ngành có truyền thống lâu đời trên toàn cầu.

Đã có những nghiên cứu khác nhau về dệt may của các quốc gia trên thể giới. Đặc biệt là các quốc gia có thế mạnh về dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Nam Á, ASEAN. Đáng giá về ngành dệt may các nước có các nghiên cứu như: ngành công nghiệp dệt may Indonexia (2007) của tác giả Wu Chongbo [169]; Zhiming Zhang, Chester and Ning Cao(2004) [173]; Bài viết của tác giả Mohammed Ziaul Haider (2007) về cạnh tranh của ngành công nghiệp may Bangladesh ở các thị trường lớn [135]; Balasubramanyam(2005): Bài viết đã so sánh về sự xuất khẩu của ngành công nghiệp dệt và may mặc tại Ấn Độ và Trung Quốc bằng các lợi thế so sánh và chỉ số tương đồng Kreinin-Finger [168]; tác giả Michaela D. Platzer: Sản xuất dệt của Hoa Kỳ và Hiệp định TPP(2013), bài viết đã đưa ra các nhận định về sự phát triển của ngành dệt Mỹ khi tham gia TPP [134]; M.Zakir Hossain(2010): Báo cáo về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam [132], tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, nhận định các vấn đề của ngành dệt may Việt Nam; Vanzetti, David and Pham Lan Huong (2014), "Quy tắc xuất xứ , tiêu chuẩn lao động , và TPP", nghiên cứu đã đánh giá tác động của TPP đến ngành dệt may, ảnh hưởng của quy tắc xuất xứ đến ngành dệt may, tiêu chuẩn về lao động trong TPP sẽ ảnh hưởng nhưng thế nào đến lao động Việt Nam bằng phương pháp nghiên cứu định lượng[89] ; Fukunishi và Yamagata (2014): " Ngành công nghiệp may ở các nước có thu nhập thấp: Một con đường đi lên công nghiệp hóa", nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của ngành dệt may đối với các nước kém phát triển, xu thế dịch chuyển của ngành dệt may từ nơi có chi phí cao đến nơi có chi phí thấp [120]; Ingvild Bakken (2014): "Nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn may mặc: Một phân tích về cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển Châu Á với Trung Quốc trong xuất khẩu hàng may mặc", Nghiên cứu đã tập trung phân tích chuỗi giá trị dệt may của Trung Quốc so với các quốc gia đang phát triển của chau Á, nhận định những vấn đề của dệt may Trung Quốc [123]; Scott H.

Pham (2014): Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Một cơ hội cho Việt Nam để giảm sự phụ 12 thuộc kinh tế của Trung Quốc", tác giả đã phân tích những cơ hội mà TPP mang lại cho Việt Nam, phân tích những lợi thế của một số ngành khi Việt Nam tham gia TPP, tác giả cũng nhận định đây là cơ hội để Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc [162]; Viện Peterson về kinh tế quốc tế (2016):"Đánh giá Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - Tập 1: Tiếp cận thị trường và các vấn đề liên ngành"; Nghiên cứu này đã phân tích những tác động của TPP đến nền kinh tế của các thành viên, tác động đến một số ngành cụ thể của các quốc gia [148]; Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Petri, Peter A., Michael Plummer, and Fan Zai (2012): "Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương : Đánh giá định lượng" [149]; Nguyen Tien Dung (2015): "Hội nhập của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực và một số gợi ý cho RCEP [114]; … Những nghiên cứu này đã đi phân tích chuỗi giá trị ngành dệt may của các quốc gia, toàn cầu, tác động và ảnh hưởng của các hiệp định thương mại tự do đến nền kinh tế của một số quốc gia thành viên, đến ngành dệt may, môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến ngành…. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành. Lý luận về cạnh tranh thì có nghiên cứu của Tôn Thất Nguyễn Thiêm, [76, tr.

117, 296, 297]; hay năng lực cạnh tranh của Bạch Thụ Cường [9]….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam trong Hiệp định TPP" tập trung vào các giải pháp chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế thông qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tài liệu phân tích các thách thức và cơ hội, đồng thời đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm, và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, doanh nghiệp, và nhà nghiên cứu quan tâm đến sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các chiến lược phát triển kinh tế và quản lý ngành nghề, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển ngành dịch vụ thương mại trên địa bàn thành phố quảng ngãi, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên, và Luận văn thạc sĩ quản lý công quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện nhà bè thành phố hồ chí minh. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các chiến lược phát triển kinh tế và quản lý hiệu quả trong các lĩnh vực khác nhau.