CHƯƠNG 1.1 Các khái niệm cơ bản về cấu trúc vốn 1.1 Khái niệm cơ bản về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn của một DN chỉ ra cách tài sản của nó được tài trợ, liên quan đến nợ và VCSH của một DN và được sử dụng bởi DN để tài trợ cho hoạt động của mình và tài trợ cho tài sản của mình (Ramachandran, 2006). CTV của DN thể hiện chiến lược đầu tư và tài chính. CTV thường được biểu thị dưới dạng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ nợ trên vốn. Nợ và VCSH được sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh DN, chi tiêu vốn, mua lại và các khoản đầu tư khác của doanh nghiệp.
CTV cho phép một DN hiểu loại tài trợ nào DN sử dụng để tài trợ cho các hoạt động và tăng trưởng chung. CTV của một DN đề cập đến cách DN tài trợ cho hoạt động và tăng trưởng của mình bằng các nguồn vốn khác nhau. Nó bao gồm cả vốn chủ sở hữu (nghĩa là vốn chủ sở hữu và vốn ưu đãi) và vốn nợ (Karadeniz, 2009, chẳng hạn như phát hành trái phiếu, ghi chú dài hạn phải trả, cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi hoặc thu nhập giữ lại. CTV đôi khi được gọi là "đòn bẩy tài chính", vì mỗi doanh nghiệp phải xem xét tỷ lệ CTV tối ưu để điều hành hoạt động kinh doanh giữa nợ và VCSH.
Các giám đốc quản lý và điều hành của DN phải ghi nhớ CTV để cố gắng tối đa hóa sự giàu có của cổ đông, luôn được ưu tiên hoặc tăng giá trị của DN. Ngoài ra, các tổ chức tài chính như ngân hàng hoặc người cho vay khác phải xem xét rủi ro của họ trong việc giúp một DN tài trợ cho hoạt động của mình. Nếu DN dường như có đòn bẩy cao - với khoản nợ đáng kể nhiều hơn vốn chủ sở hữu - thì đó là một rủi ro lớn hơn, vì DN nợ nhiều hơn số tiền kiếm được, trong khi một DN có đòn bẩy thấp dường như ít rủi ro hơn, vì DN kiếm được nhiều hơn nợ. Mục đích của CTV là cung cấp một cái nhìn tổng thể và khái quát lên tổng quan về mức độ rủi ro của DN.
Theo nguyên tắc thông thường, tỷ lệ tài trợ nợ của một DN càng cao thì khả năng gặp rủi ro sẽ càng cao. Khi một DN tài trợ cho hoạt động của mình bằng cách mở hoặc tăng vốn cho nhà đầu tư (Ví dụ: cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu phổ thông hoặc thu nhập giữ lại), DN sẽ tránh được rủi ro nợ, do đó làm 6 giảm khả năng phá sản. Hơn nữa, chủ sở hữu có thể chọn tài trợ nợ và duy trì quyền kiểm soát DN, tăng lợi nhuận cho các hoạt động. Nợ có hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp, khoản vay dài hạn hoặc nợ ngắn hạn.
Có những DN có nguy cơ rủi ro cao khi họ quyết định nên tăng nợ hay vốn chủ sở hữu, và các nhà quản lý sẽ cân bằng cả hai để tìm ra CTV tối ưu. Điều này rất quan trọng đối với một DN là quản lý nợ và VCSH vì tỷ lệ thuận lợi cho việc sẽ hấp dẫn đến các chủ nợ và các nhà đầu tư tiềm năng trong doanh nghiệp. CTV có thể thay đổi đáng kể theo ngành. Các ngành công nghiệp thường không phù hợp với nợ, vì dòng tiền lưu động của DN không dự đoán trước được và có quá nhiều sự không chắc chắn về khả năng tiềm lực trả nợ của họ.
Các ngành kinh doanh khác có thể sử dụng một lượng lớn đòn bẩy và mô hình kinh doanh của họ đòi hỏi một khoản nợ lớn. Các DN tư nhân có thể gặp khó khăn hơn khi sử dụng nợ trên VCSH, đặc biệt là các DN nhỏ được yêu cầu phải có bảo lãnh cá nhân từ chủ sở hữu của họ. - Lá chắn thuế: được hiểu là chi phí lãi vay, là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp được tài trợ vốn bằng các khoản nợ vay sẽ tạo ra lợi từ lá chắn thuế cho các doanh nghiệp đi vay.
Trong công thức xác định WACC, (1-T) là lợi ích từ lá chắn thuế, trong đó T là thuế thu nhập doanh nghiệp. Ví dụ, một công ty vay 20 đồng các khoản nợ và thuế suất doanh nghiệp là 25%, vốn vay ròng mà doanh nghiệp thực sự phải trả chỉ là 20*(1-0. Bên cạnh đó, lợi ích từ lá chắn thuế sẽ tăng lên nếu như giá trị các khoản vay tăng lên. Ngoài ra, lá chắn thuế còn làm gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, không phải vì lợi ích từ lá chắn thuế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay càng nhiều. Bởi lẽ, không phải tất cả các doanh nghiệp làm ăn đều có lãi, và ngay cả khi làm ăn thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải có nghĩa vụ chi trả các khoản lãi vay. Chính vì thế, lựa chọn một cơ cấu vốn giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu là cả một nghệ thuật. Đây cũng là những tiền đề để phát triển lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory).
7 - Thông tin bất đối xứng: doanh nghiệp có nguồn lợi nhuận ổn định và những doanh nghiệp này rất ít khi huy động vốn từ các nguồn vốn vay. Thông thường, các nhà quản trị, quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin về sự hoạt động của doanh nghiệp, các rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Chính vì các nhà đầu tư bên ngoài ít thông tin hơn các nhà quản trị, quản lý và chỉ có nhà quản trị, quản lý mới biết rõ được chính xác giá trị thực tại của công ty. Khi phát hành cổ phiếu sẽ có xu hướng làm giảm giá trị của các cổ phiếu đang lưu hành, vì khi cần tăng nguồn vốn của công ty, các nhà quản lý có xu hướng tránh việc phát hành thêm cổ phiếu mới mà sẽ ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp và sau đó ưu tiên vay nợ từ bên ngoài.
Ngược lại, lý thuyết trật tự phân hạng cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp sẽ chỉ phát hành cổ phiếu mới với giá cao hơn giá trị của cổ phiếu trên thị trường. Bởi thế, việc phát hành cổ phiểu sẽ báo tín hiệu về việc cổ phiếu đang được định giá cao và quan trọng hơn, doanh nghiệp đó không đủ khả năng để huy động vốn từ nguồn vốn vay. Chính vì thế, theo như lý thuyết trật tự phân hạng, phát hành cổ phiếu đồng nghĩa với thông tin không tốt dưới con mắt của nhà đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng vốn vay, đó là tín hiệu khả quan về sự phát triển của công ty.
Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking theory) đã giải thích vấn đề trên, nguyên lý này tập trung vào vai trò của thông tin bất đối xứng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết giả định rằng nhà quản lý sẽ thực hiện vai trò của mình để tối đa hóa tài sản của các cổ đông. - Nợ: đó là số vốn mà doanh nghiệp đi vay nợ của cá nhân, tổ chức và do vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ. Bao gồm các khoản nợ tiền vay, nợ phải trả người bán, cho thuế Nhà nước và các khoản phải trả khác.
Nợ của doanh nghiệp phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. - Vốn chủ sở hữu: là số vốn của chủ sở hữu, các nhà đầu tư vào doanh nghiệp mà không phải cam kết trách nhiệm thanh toán. Vốn chủ sở hữu là vốn tự góp hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nó không phải là một khoản nợ. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp, lợi nhuận giữ lại và vốn chủ sở hữu khác.
8 - Giá trị của doanh nghiệp: là giá trị của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu hiện tại của doanh nghiệp, là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản lợi ích hay thu nhập mà doanh nghiệp có thể thu được trong tương lai. Giá trị của doanh nghiệp là mối quan tâm của 3 chủ thể: Nhà nước, nhà đầu tư và nhà quản trị DN. Giá trị của doanh nghiệp là cơ sở để thực hiện hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hóa hoặc chia nhỏ DN, là cơ sở đưa ra các quyết định về quản trị kinh doanh, quyết định tài chính hiệu quả, là cơ sở đưa ra các quyết định về đầu tư, cấp vốn, hợp tác liên kết đầu tư. Giá trị của doanh nghiệp là thông tin quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu đầy đủ nhất là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.Vì đó giá trị của doanh nghiệp được xác định bằng các phương pháp bao gồm phương pháp tài sản, phương pháp chiết khấu dòng tiền, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo các tỷ số so sánh. Trong đó phương pháp giá trị hiện tại có điều chỉnh (APV) dựa trên lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp do Modigliani và Miler xây dựng (M&M, 1958) khi xem xét ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu vốn đến giá trị doanh nghiệp. Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp có nợ bằng giá trị doanh nghiệp không nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế, được diễn tả bởi công thức: Giá trị DN = Giá trị DN được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần + PV(lá chắn thuế) – PV(chi phí kiệt quệ tài chính) Tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chi phí, gọi là chi phí kiệt quệ tài chính (financialdistresscosts), và kết quả là làm giảm đi sự gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Khi tới một điểm mà tại đó chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, và khi ấy giá trị doanh nghiệp giảm dần.2 Cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu của một DN thường được định nghĩa là tỷ lệ nợ và VCSH dẫn đến chi phí nợ vốn trung bình cho ra trọng số thấp nhất (WACC) cho DN.
Định nghĩa này không phải lúc nào cũng được sử dụng trong thực tế và các DN 9 thường có quan điểm chiến lược hoặc mô hình về CTV của riêng từng DN. Trong khi quyết định CTV lý tưởng cho DN, mục đích cuối cùng của DN, tức là tối đa hóa, gia tăng lợi ích giá trị cổ đông, luôn được ưu tiên. Lý thuyết truyền thống về CTV nêu rõ rằng khi tối thiểu hóa chi phí vốn trung bình (WACC) và giá trị trên thị trường của những tài sản được tối đa hóa, sẽ tồn tại một CTV tối ưu.