phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thì luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lũng Lô 3. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lũng Lô 3. 7 CHƢƠNG 1 Formatted: Font: 16 pt CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP Formatted: Font: 9 pt 1.
TỔNG QUAN VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất. Vậy vốn là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm nhìn nhận vốn dưới một góc độ nhất định. Thực tế cho thấy, muốn thực hiện việc sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động. Để có những yếu tố đó, đòi hỏi họ phải chi ra một lượng vốn phù hợp với quy mô cũng như bối cảnh kinh doanh nhất định.
Lượng vốn này được gọi là vốn kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp liên tục vận động và chuyển hóa từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật, cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền với giá trị lớn hơn. Vì thế, có thể hiểu rằng: Vốn là toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp ứng Formatted: Condensed by 0,3 pt Formatted: Font: Not Italic, Condensed by 0 ra ban đầu và trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh pt nhằm mục đích tăng giá trị tối đa cho vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Formatted: Condensed by 0,3 pt 1.2 Đặc điểm Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt bị chia cắt, mà trong mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Những đặc điểm sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về bản chất của vốn. 8 Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản Vốn là biểu hiện bằng tiền cho giá trị những tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công, …) và vô hình (bằng phát minh, sáng chế, thương hiệu, uy tín, lợi thế thương mại, hệ thống phần mềm kế toán…) mà doanh nghiệp sử dụng để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ. Cần lưu ý rằng, vốn phải là các tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ quá trình SXKD. Vì vậy, không phải tất cả mọi tài sản đều là vốn mà chỉ những tài sản đang huy động vào việc chế tạo sản phẩm, dịch vụ mới được xem như vốn.
Các tài sản ở trạng thái tĩnh, chưa đưa vào hoạt động thì chỉ là vốn tiềm năng. Với đặc điểm này, doanh nghiệp cần tìm cách huy động càng nhiều tài sản vào quá trình SXKD càng tốt, để biến vốn trong trạng thái tiềm năng thành vốn hoạt động. Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng mới chỉ ở dạng tiềm năng. Muốn biến tiền thành vốn, phải đưa nó vào hoạt động để sinh lời.
Trong chu trình vận động tại lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng khi hoàn thành một quá trình vận động phải quay trở lại trạng thái tiền tệ với giá trị lớn hơn ban đầu. Đây là nguyên lý quan trọng về đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Quá trình vận động của đồng vốn ở các doanh nghiệp sản xuất được chia thành 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: (T – H) Vốn hoạt động trong quá trình lưu thông; lúc đầu, vốn tiền tệ tích tụ đủ lớn (T) được mang ra thị trường mua sắm các yếu tố đầu vào (đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động - H), nhất là đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm) để dự trữ sản xuất. Kết thúc giai đoạn này, vốn chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vốn dự trữ sản xuất.
9 - Giai đoạn 2: (H – Sản xuất – H’) Vốn rời khỏi lưu thông và chuyển vào lĩnh vực sản xuất. Tại đó, mọi yếu tố đầu vào được doanh nghiệp mua ở giai đoạn 1 sẽ kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm. Trong giai đoạn này, vốn từ hình thái vật tư dự trữ sản xuất chuyển sang trạng thái sản phẩm dở dang, thành phẩm và cuối cùng chuyển thành hình thái hàng hóa. - Giai đoạn 3: (H’ - T’) Vốn đã chuyển sang trạng thái hàng hóa sẵn sàng đem bán.
Khi doanh nghiệp tìm thấy thị trường đầu ra và tiêu thụ được sản phẩm do mình sản xuất ra để thu tiền về. Với giai đoạn này, vốn chuyển từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ - điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn. Quá trình vận động của vốn trải qua 3 giai đoạn và chuyển từ hình thái này sang hình thái khác, để rồi quay về hình thái ban đầu. Sự tuần hoàn này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt các chu kỳ hoạt động, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm cách để đồng vốn quay vòng liên tục nhằm mục đích sinh lời, đồng thời huy động triệt để mọi nguồn lực vào phát triển SXKD.
Thứ ba, vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng Muốn thực hiện hoạt động SXKD, phải tập trung một lượng vốn đủ lớn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, thuê mướn nhân công,…Vì thế, các doanh nghiệp luôn chú trọng việc tìm kiếm, thu hút các nguồn vốn nhằm phục vụ cho quá trình này thông qua những hình thức góp vốn, phát hành cổ phiếu, nhận vốn liên doanh,… Có nhiều kênh để tiến hành huy động vốn như thị trường tài chính và thị trường tiền tệ. Thị trường tài chính cung cấp các nguồn vốn dài hạn, doanh nghiệp có thể huy động thông qua phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hay nhận vốn góp của các nhà đầu tư,… 10 hoặc huy động vốn thông qua vay từ các tổ chức tín dụng (ngân hàng, Công ty tài chính,…). Bên cạnh đó, hàng năm doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn tạo ra từ lợi nhuận giữ lại, nguồn vốn chiếm dụng được của các nhà cung cấp để tăng cường vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ tư, vốn có giá trị về thời gian Phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị về mặt thời gian.
Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau. Thứ năm, vốn gắn liền với chủ sở hữu Trong nền kinh tế thị trường, đồng vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất Formatted: Condensed by 0,1 pt định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chi tiêu tiết kiệm, có hiệu quả. Ở đây cần phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn.
Người sở hữu vốn chưa chắc đã có quyền quyết định sử dụng vốn cho mục đích gì mà người quyết định sử dụng vốn ở đây là người có quyền sử dụng vốn. Tùy theo từng hình thức huy động mà chủ sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời nhau. Tuy nhiên người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong quá trình huy động và sử dụng vốn.
Thứ sáu, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Nhưng người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. Khi đó quyền sở hữu vốn không di chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử Formatted: Line spacing: Multiple 1,45 li dụng vốn., vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
Việc mua này diễn ra trên thị trường tài 11 chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một là, vốn kinh doanh có vai trò quyết định cho việc thành lập, hoạt động phát triển của doanh nghiệp Vốn là một yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phạm vi một doanh nghiệp có thể thấy rằng, điểm xuất phát để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là có một số vốn đầu tư ban đầu nhất định.
Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nếu không có vốn sẽ không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cả, vốn là cơ sở để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Về mặt pháp lý, tất cả các doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định. Lượng vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp của doanh nghiệp đó.