phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Dƣợc phẩm Thiết bị Y tế Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Dƣợc phẩm Thiết bị Y tế Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Các hoạt động thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng đều đƣợc giá trị hóa bằng tiền, vì vậy để sở hữu các nguyên tố sản xuất nhƣ thiết bị máy móc, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, nhân công. đều ứng trƣớc một khoản tiền nhất định gọi là vốn sản xuất kinh doanh. Yêu cầu cơ bản và không thể thiếu của quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh chính là Vốn kinh doanh.
Bất kỳ một quy trình hoạt động sản xuất nào muốn thực hiện cũng cần phải có Vốn kinh doanh. Các nhân tố đầu vào nhƣ: tài liệu, đối tƣợng và sức lao động đƣợc chuẩn bị đều cần đến khoản mục vốn này. Trong các khâu của hoạt động sản xuất, Vốn kinh doanh thƣờng xuyên tồn tại, thay đổi qua các hình thái không giống nhau. Nó có thể đƣợc biểu hiện dƣới dạng là thành phẩm, thiết bị, máy móc, tiền, phân xƣởng, nguyên vật liệu, … Một chu kỳ luân chuyển đƣợc kết thúc thì hình thái nó quay lại là hình thái tiền tệ.
Theo đó, sau mỗi lần chu chuyển do hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lãi, nó giữ nguyên đƣợc số vốn bỏ ra đầu tiên và thêm vào đó là số vốn đƣợc phát triển thêm. Có khá nhiều khái niệm về vốn: Theo Karl Max “Vốn (tƣ bản) là giá trị thặng dƣ”, có nghĩa là một yêu tố sẽ tạo ra một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó khi nó đƣợc đƣa vào sử dụng trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, quan điểm này mới chỉ đề cập đến phạm trù tƣ bản là tiền khi đƣợc dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra giá trị thặng dƣ.Samuelson – một nhà kinh tế học theo trƣờng phái tân cổ điển thì 7 lại quan niệm “Vốn là hàng hóa đƣợc sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp”. Có thể thấy, ở quan niệm của Paul A.Samuelson thì vốn đã đƣợc xét trên một góc độ rộng hơn nghĩa là hình thái tồn tại của vốn ở cả hình thái hiện vật và tiền tệ.
Tóm lại, dựa vào tƣ liệu giáo trình Tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân (2016) cho rằng Vốn kinh doanh hay còn gọi tắt là Vốn nhƣ sau: “Vốn được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Đặc trƣng của Vốn kinh doanh Về bản chất, Vốn kinh doanh không giống nhƣ các loại hàng hóa hay tiền tệ thông thƣờng khác. Điều này do Vốn kinh doanh có những đặc thù cơ bản sau: Đầu tiên: Vốn kinh doanh đƣợc thể hiện bằng một lƣợng giá trị thực của tài sản. Đó có thể là những tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình của doanh nghiệp (nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, thƣơng hiệu, bí quyết công nghệ, chất xám, uy tín thƣơng mại…) - Vốn kinh doanh vận động thƣờng xuyên, chuyển hóa, sinh lời và đi liền với quá trình sản xất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai: Vốn phải đƣợc tích luỹ đến giá trị nhất định mới có thể hoạt động sinh lời. Muốn thực hiện hoạt động sản xất kinh doanh, phải tích lũy một số vốn đủ lớn nhất định để đầu tƣ vào thiết bị,máy móc, nguyên liệu, vật liệu, chi trả chi phí nhân công.…Do vậy, các doanh nghiệp luôn dành mối quan tâm đặc biệt đến việc tìm kiếm, thu hút các nguồn vốn chất lƣợng phục vụ cho quá 8 trình hoạt động kinh doanh thông qua những hình thức góp vốn, phát hành cổ phiếu, nhận vốn liên doanh,… Có nhiều kênh để tiến hành huy động vốn nhƣ thị trƣờng tài chính và thị trƣờng tiền tệ. Thị trƣờng tài chính cung cấp các nguồn vốn dài hạn, doanh nghiệp có thể huy động thông qua phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hay nhận vốn góp của các nhà đầu tƣ,… hoặc huy động vốn thông qua vay từ các tổ chức tín dụng (ngân hàng, Công ty tài chính,…). Ngoài ra, hàng năm doanh nghiệp còn tận dụng đƣợc nguồn vốn lấy ra từ lợi nhuận giữ lại, nguồn vốn chiếm dụng đƣợc từ các nhà cung cấp để tăng cƣờng vốn phục vụ hoạt động sản xất kinh doanh.
Thứ ba: Vốn phải đƣợc gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trƣờng,vốn luôn đi liền với một chủ sở hữu nhất định. Đồng vốn đƣợc sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm khi và chỉ khi chủ sở hữu của đồng vốn đó đƣợc xác định rõ ràng. Ở đây vấn đề cần đƣợc giải quyết đó để tránh nhầm lẫn đó là phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn.
Ngƣời sở hữu vốn và ngƣời có quyền quyết định sử dụng vốn là khác nhau. Ngƣời sở hữu vốn chƣa chắc đã có quyền quyết định sử dụng vốn cho mục đích gì mà quyền quyết định sử dụng vốn ở đây là ngƣời nắm giữ quyền sử dụng vốn. Tùy theo từng hình thức huy động chủ sở hữu và ngƣời sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời nhau. Tuy nhiên ngƣời sở hữu vốn vẫn đƣợc ƣu tiên đảm bảo quyền lợi và đƣợc tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình.
Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong quá trình huy động và sở hữu vốn. Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Cùng một số vốn nhƣng ở giai đoạn khác nhau thì trị giá là khác nhau. Trong điều kiện cơ chế thị trƣờng, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hƣởng sự biến động của lạm phát, giá cả nên trị giá của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là không giống nhau.
9 Thứ năm: Vốn kinh doanh đƣợc coi là một hàng hoá đặc biệt có sự phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Trong nền kinh tế thị trƣờng,Vốn đƣợc coi là hàng hoá đặc biệt luân chuyển giữa ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn. Ngƣời cần vốn (ngƣời đi vay) mua lại quyền sử dụng vốn của ngƣời có vốn (ngƣời có vốn). Khi đó, Ngƣời cho vay đƣợc ngƣời vay thanh toán một tỷ lệ lãi suất nhất định đƣợc coi là giá của quyền sử dụng vốn.
Quyền sở hữu khoản vốn đó của ngƣời cho vay sẽ không bị mất đi mà chỉ có quyền sử dụng là bị mất trong khoảng thời gian nhất định. Việc giao dịch này đƣợc thực hiện trên thị trƣờng tài chính, giá mua bán phải tuân theo quan hệ cung - cầu vốn trên thị trƣờng. Vai trò của Vốn kinh doanh Thứ nhất, Vốn là yêu cầu đầu tiên quyết định cho sự ra đời của doanh nghiệp. Căn cứ theo nguồn vốn, phƣơng thức huy động vốn khác nhau hình thành nên những loại hình doanh nghiệp khác nhau.Vốn cũng là tiêu thức để đánh giá, phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, trung bình hay nhỏ.
Thứ hai, Vốn có vai trò quan trọng cho sự tồn tại và tăng trƣởng của doanh nghiệp. Vốn bảo đảm cho hoạt động kinh doanh diễn ra thƣờng xuyên, không bị gián đoạn, thể hiện vị thế, năng lực của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng. Vốn là nền tảng để doanh nghiệp đƣa ra chiến lƣợc kinh doanh, là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả và mở rộng quy mô, phát triển thị trƣờng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. Thứ ba, Vốn góp phần quan trọng tới việc cải thiện, nâng cao, đổi mới cơ sở kỹ thuật vật chất của doanh nghiệp.
Sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không chỉ đƣợc giữ nguyên mà còn cần đem lại lợi nhuận, tức là doanh nghiệp sử dụng vốn kinh 10 doanh có hiệu quả. Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp tục đầu tƣ mở rộng phạm vi sản xuất, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất kinh doanh, thị trƣờng tiêu thụ đƣợc mở rộng, uy tín của doanh nghiệp đƣợc nâng cao. Vốn kinh doanh là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng sự phát triển tƣơng lai của doanh nghiệp. Do đó, Vốn có đƣợc quản lý và sử dụng hiệu quả hay không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và tăng trƣởng của doanh nghiệp.
Phân loại Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Phân loại vốn theo quyền sở hữu Theo tiêu thức phân loại này, Vốn kinh doanh bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. *Vốn chủ sở hữu Số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp đƣợc gọi là Vốn chủ sở hữu. Bộ phận vốn cho thấy sự độc lập tài chính của doanh nghiệp vì thế nó có tính quan trọng và ổn định cao.
Sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng lớn nếu loại vốn này chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng vốn và ngƣợc lại. Vốn chủ sở hữu đƣợc cấu thành bởi các thành phần sau: Vốn điều lệ Lƣợng vốn đầu tiên mà chủ doanh nghiệp có khi thành lập doanh nghiệp là do sự đầu tƣ của các chủ sở hữu. Hình thức sở hữu của mỗi doanh nghiệp đƣợc quyết định tùy theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc, Ngân sách Nhà nƣớc sẽ cấp một phần hoặc toàn bộ vốn khi bắt đầu hoặt động tùy vào quy mô và tính chất hoặt động.
Đối với Công ty tƣ nhân, Vốn sẽ do các chủ sở hữu đầu tƣ. Vốn tự bổ sung Các nguồn vốn của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh đƣợc bổ sung thêm từ các khoản lợi nhuận để lại, quỹ đầu tƣ phát triển và các quỹ dự phòng 11 tài chính, quỹ khấu hao hay còn gọi là các nguồn nội bộ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, phát thành cổ phiếu mới cũng là một cách mà các doanh nghiệp sử dụng để tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đó. Đây có thể đƣợc coi là nguồn tài chính dài hạn quan trọng của doanh nghiệp.