CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DUNG TAI SAN CUA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản không phải là van đề mới, nhưng van là van đề quan trong và cực kỳ cần thiết với bat cứ doanh nghiệp nào. Chính vì lý do đó, từ trước đến nay đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này như: - _ Nguyễn Thị Thìn (2016) trong đề tài nghiên cứu "Nâng cao hiệu quả sử dung tài sản tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bạch Dang TMC". Đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản và có so sánh với đối thủ trong ngành, nhưng mới chỉ so sánh với 1 công ty và chưa có số liệu trung bình ngành dé có góc nhìn bao quát hơn về điểm mạnh điểm yếu của công ty trong việc hiệu quả sử dụng tài sản; - Bui Thanh Thủy (2016) trong đề tài nghiên cứu "Nâng cao hiệu quả sử dung tài sản lưu động tại công ty cổ phan tập đoàn Quang Minh".
Dé tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản khá chi tiết nhưng lại chưa có so sánh với các đối thủ trong ngành và trung bình ngành, để có góc nhìn cụ thể hơn về tình hình hiệu quả sử dụng tải sản của công ty; - Tran Thị Bich Vân (2016) trong đề tài nghiên cứu "Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn han tại Tổng công ty cổ phan đầu tư xây dung và thương mại Việt Nam". Đề tài nghiên cứu khá chỉ tiết về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, đồng thời nêu ra các giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu lại không nghiên cứu về tài sản đài hạn, trong khi một tổng công ty lớn thì tài sản dài hạn nhất là trong ngành xây dựng thì có tầm quan trọng rất lớn; - Tran Thi Thu Hương (2015) trong đề tài nghiên cứu: “Hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Xăng đầu khu vực I”. Dé tài tổng hợp khá chi tiết những lý luận cơ bản và các chỉ tiêu đánh giá và hiệu quả sử dụng tài sản rất đầy đủ.
Không chỉ vậy, tác giả nêu lên những hạn chế mà công ty đang gặp phải trong các chính sách quản trị làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản. Để làm cơ sở đề xuất những giải pháp cụ thé dé cải thiện hiệu qua sử dung tai sản như: Quản lý chặt chẽ tài sản cố định hữu hình, nâng cao công tác thâm định dự án, hoàn thiện bộ máy kế toan.; - Pang Văn Hảo năm (2015) trong dé tài nghiên cứu: “Hiệu qua sử dụng tài sản tại công ty cô phan cơ khí Đông Anh”. Tác giả có so sánh với các don vị cùng ngành và chỉ số trung bình ngành. Từ đó tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan, những hạn chế làm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phan cơ khí Đông Anh; - _ Nguyễn Thi Thanh Loan (2014) trong dé tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cô phần bánh kẹo Hải Hà ".
Đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản và có so sánh với một số công ty trong ngành nhưng chưa có góc nhìn tổng quan về ngành, và tình hình kinh tế - ngành nghiên cứu năm 2014 đã khác so với năm 2017 khá nhiều. - _ Những điêm kê thừa va đóng góp mới của luận văn Các nghiên cứu trước đã đề cập những vấn đề chung về tình hình quản lý tài sản và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản nghiên cứu của tác giả kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước. Các nghiên cứu trước chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả sử dụng tài sản công ty trong lĩnh vực sản xuất gạch ốp lát và vật liệu ốp lát nói chung và công ty cô phần CMC nói riêng. Luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian 2014 — 2017 là những năm kinh tế Việt Nam khởi đầu cho sự thay đổi tích cực đồng thời ngành sản xuất gạch ốp lát đang đồng thuận với sự tăng trưởng của ngành bất động sản, quá trình nghiên cứu cập nhật được xu hướng thiết thực, cơ hội và thách thức kịp thời trong thời kỳ biến động này.
Cơ sở lý luận hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản của doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán số 1- Chuẩn mực chung (ban hành và công bồ theo quyết định số 165/2002/QD- BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng bộ tài chính). Tài san được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tu, hàng hoá hoặc không thê hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tải sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không được kiểm soát về mặt pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thé thoả mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng.
Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiên sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản; Như vậy, tài sản của doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thé thu được lợi ích kinh tế trong tương lai như: Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm dé ban hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Để bán hoặc trao đổi lẫy tài sản khác. Để thanh toán các khoản nợ phải trả. Đề phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp; Mặt khác vốn (tài sản) của doanh nghiệp lại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau gọi là nguồn vốn hay nói khác nguồn gốc hình thành của tài sản gọi là nguồn vốn.
Như vậy tài sản và nguồn vốn chỉ là 2 mặt khác nhau của vốn. Một tai sản có thê được tài trợ từ một hay nhiều nguồn vốn khác nhau, ngược lại một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều tài sản. Không có một tài sản nào mà không có nguồn gốc hình thành cho nên về mặt tổng số ta có: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Tài sản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều được hình thành từ 2 nguồn vốn: nguồn vốn của chủ sở hữu và các món nợ phải tra. Từ đó ta có dang thức: Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu Phân loại tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm ra báo cáo. Trong đó chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn; * Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu ky kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tai sản có kha năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kê từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngăn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh ké từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, và tài sản ngắn hạn khác. (Nguyễn Đình Kiệm va Bạch Đức Hién, 2012) Dé sử dung tài sản ngắn hạn có hiệu quả cần phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu chí khác nhau, có một sô tiêu chí thường được sử dụng như sau: e - Căn cứ vào phạm vi sử dụng Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính: Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm đở dang, vật liệu bao bì đóng gói; Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ: ĐỀ linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn dé chi cho công tác sửa chữa. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật sửa chữa được phân thành hai loại: Sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động; Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp: Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính như: Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: ghim, bảng, tủ, bàn ghé,. Khoản tạm ứng cho công tác tiếp khách, hội nghị, dao tao can bộ; Tài sản ngắn han sử dụng trong công tác phúc lợi: Công tac phúc lợi tai doanh nghiệp chủ yếu dùng để đầu tư cho công nhân viên đi tham quan, nghỉ mát, và các hoạt động liên hoan, văn nghệ; e - Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển tài sản ngắn hạn: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền được hiểu là các khoản dau tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dé dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyên đổi thành tiền; Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi đưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng ,.