CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm, phân loại tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp là tất cả vật chất, của cải biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như hữu hình hoặc vô hình bao gồm tiền, các vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định và có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp [2] Tài sản của doanh nghiệp có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo những tiêu thức khác nhau như: Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản bao gồm: Tài sản vô hình và tài sản hữu hình; Căn cứ vào tính chất tuần hoàn và luân chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và tài sản lưu động; Căn cứ vào thời hạn sử dụng, tài sản thường được chia thành hai loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn; Căn cứ vào quyền sở hữu tài sản, tài sản được chia thành: Tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp và tài sản thuê ngoài; Căn cứ vào nguồn hình thành, tài sản được chia thành: Tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và tài sản được tài trợ bởi vốn nợ. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả lựa chọn tiêu thức phân loại TS căn cứ thời hạn sử dụng TS, kết hợp với hình thái vật chất của TS. Tài sản ngắn hạn (TSNH) TSNH là những tài sản có thời gian sử dụng trong vòng 12 tháng hoặc 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, nó thường xuyên thay đổi hình thái giá trị trong quá trình sử dụng. TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thay đổi hình thái vật chất, chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Do TSNH tồn tại ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn ra một cách liên tục. 4 Nếu TSNH không được sử dụng một cách hợp lý thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị gián đoạn, do đó làm tăng chi phí và quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu. Tài sản ngắn hạn gồm: [2] Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền gửi ngân hàng, tiền mặt và tiền đang chuyển. Tiền gửi ngân hàng là tiền gửi không kỳ hạn tại các tài khoản thanh toán ở ngân hàng và dùng cho mục đích thanh toán không dùng tiền mặt.
Tiền mặt tại quỹ hình thành là do doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Tiền đang chuyển là do quá trình chuyển tiền cần có một thời gian nhất định chờ làm thủ tục nên tồn tại hình thức này. Tài sản bằng tiền có thể tồn tại dưới dạng vàng, bạc, ngoại tệ, nội tệ, đá quý, kim khí quý. Chỉ tiêu này phản ánh tại thời điểm báo cáo toàn bộ số tiền doanh nghiệp hiện có, qua đó giúp cho việc đánh giá khả năng thanh toán nhanh và giúp DN có kế hoạch trả nợ kịp thời và kế hoạch đầu tư tài chính vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn nhưng không quá thời gian 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp nhưng đang bị cá nhân hoặc các đơn vị khác chiếm dụng và doanh nghiệp phải thu hồi về trong vòng 12 tháng bao gồm: các khoản phải thu nội bộ, các khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ. Đầu tư tài chính ngắn hạn: là những khoản đầu tư bên ngoài với mục đích kiếm lời và có thời gian thu hồi trong vòng một năm, cho vay ngắn hạn, góp vốn liên doanh ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn. Hàng tồn kho: là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc chờ bán, bao gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng mua đang đi đường, sản phẩm dở dang, hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi đi bán.
5 Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, chi phí trả trước ngắn hạn và TSNH khác. Trên thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục như trên trong TSNH của doanh nghiệp. Thông thường các doanh nghiệp chỉ có mục chính là: khoản phải thu, ngân quỹ, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và hàng tồn kho. Cơ cấu TSNH trong tổng tài sản của DN phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ như với doanh nghiệp thương mại thì TSNH chiếm tỷ trọng lớn hơn so với TSDH, điều này là ngược lại đối với doanh nghiệp sản xuất.
Nhìn cơ cấu về TSNH còn cho nói lên tình hình tài chính hiện tại, khả năng thanh toán và các rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều có nhu cầu về TSNH khác nhau. Tài sản dài hạn (TSDH) Tài sản dài hạn bao gồm tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn. TSDH bao gồm bất động sản đầu tư, các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.
[2] Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu nội bộ dài hạn, khoản phải thu dài hạn của khách hàng và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thanh toán hoặc thu hồi trên một năm. Bất động sản đầu tư: là những bất động sản bao gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng cho mục đích trong sản xuất, cung cấp dịch vụ, hàng hoá hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Một bất động sản đầu tư phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau mới được ghi nhận là tài sản: - Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai. - Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cập.
Nguyên giá bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí hợp 6 lý liên quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch có liên quan khác. Tài sản cố định: Là những yếu tố của tư liệu lao động được sử dụng trong một thời gian luân chuyển tương đối là dài và nó có giá trị tương đối lớn. Thường thì thời gian sử dụng để một tài sản được coi là tài sản cố định là trên một năm và giá trị tối thiểu để một tài sản được xếp vào tài sản cố định phụ thuộc vào quy định của Bộ tài chính trong từng thời kỳ [1]. Việc đầu tư đổi mới TSCĐ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, bởi vì: - TSCĐ là yếu tố quyết định năng lực SXKD của doanh nghiệp.
- Nhờ đổi mới TSCĐ mới có được năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp đó chính là điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đó góp phần làm tăng doanh thu và từ đó tăng sức cạnh tranh của DN trên thị trường. Từ góc độ này, vấn đề sống còn đối với mỗi DN là việc đầu tư đổi mới TSCĐ kịp thời, hợp lý. - Khi xét trên góc độ tài chính DN sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mới TSCĐ là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí. Những chi phí giảm như: chi phí sửa chữa lớn, giảm hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sản phẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.
Tài sản cố định được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý khác nhau của doanh nghiệp. Thông thường có một số cách thức phân loại TSCĐ chủ yếu sau [1]: + Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện: Toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành hai loại theo phương pháp này là : tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động SXKD như: Nhà cửa, máy móc, thiết bị, vật kiến trúc, thiết bị truyền dẫn, phương tiện vân tải… 7 Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp quản lý, sử dụng phục vụ cho các hoạt động SXKD của mình, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định vô hình thông thường bao gồm: chi phí thành lập, chi phí khảo sát thiết kế; uy tín, lợi thế thương mại; quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ, ví dụ như nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, bằng phát minh sáng chế, bản quyền, giải pháp công nghệ.
Phương pháp phân loại này sẽ giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu biện, là căn cứ để doanh nghiệp quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp với thực trạng và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sản cố định. + Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng: Toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại khi dựa theo tiêu thức này: Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang được dùng trong hoạt động SNKD cơ bản và hoạt động SXKD phụ của doanh nghiệp.