CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái Niệm về logistics Sau cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai sản xuất vật chất của xã hội đã đạt năng suất cao do áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, song muốn tối ưu hoá quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của DN trên thị trường chỉ có cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống quản lý phân phối vật chất, có như vậy mới giảm được thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, thành phẩm trong quá trình sản xuất và lưu thông. Logistics là tên gọi ngắn gọn của hệ thống phân phối vật chất này.
Vậy logistics là gì? logistics được đưa ra lần đầu tiên với tư cách là một thuật ngữ bởi nhà quân sự người Thuỵ Sĩ Baron Antonie Henry. Trong tác phẩm “Tổng kết lịch sử quân sự” (năm 1838), lần đầu tiên ông sử dụng thuật ngữ logistics với ý nghĩa là nghệ thuật điều chuyển quân đội, thực hiện các hoạt động thu thập, bảo quản và vận chuyển NVL, nhân sự và phương tiện. Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ (LAC,1988): “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thoả mãn những yêu cầu của khách hàng”[19, tr. Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ Logistics (CLM, 1991): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”[19, tr.
Theo tài liệu Logistics and Supply Chain Management (Ma Shou, 6 Trường Đại học hàng hải thế giới) thì: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”[21, tr.5] Tóm lại, logistics là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát các luồng dịch chuyển của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ. Khái niệm dịch vụ logistics Luật Thương Mại Việt Nam đã đưa ra khái niệm “Dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (Điều 233 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 Việt Nam năm 2005 và Luật 03/VBHN-VPQH 2021) [16],[17],[18]. Cũng theo như định nghĩa được Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (CSCMP) đưa ra vào năm 2019 thì: “Dịch vụ logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”[22, tr. Dịch vụ logistics không chỉ là các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu đầu vào qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng, mà còn bao gồm quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả cao.
Vậy nên dịch vụ logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng (Supply Chain). 7 (Nguồn: Lamber, Strategic logistics management, [21.1: Các thành phần và hoạt động cơ bản của Quản trị logistics Hình 1.1 cho thấy logistics là chuỗi các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và kết hợp nhịp nhàng. Chuỗi các hoạt động nay nhằm đảm bảo các yếu tố tạo nên sản phẩm thông qua các hoạt động nhập nguyên liệu đầu vào và đưa sản phẩm cuối cùng tới tay người tiêu dùng. Cùng với việc vạch ra chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp thì các yếu tố như nhân lực, vốn, nguyên nhiên liệu, chất lượng dịch vụ, thông tin, công nghệ chính là nguồn tài nguyên đầu vào.
Để phát triển chiến lược kinh doanh thì mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…những chuỗi hoạt động này cũng cần được chú ý. Cần kết hợp nhịp nhàng, xử lý nhanh nhẹn chuỗi các hành động này sẽ tạo ra sự thỏa mãn của khách hàng, mang lại những hiệu quả cao trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trên đây là những cách diễn đạt khác nhau về khái niệm dịch vụ logistics, có thể rút ra nhận thức chung nhất như sau: Dịch vụ logistics là 8 chuỗi các hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời.
Khái niệm kinh doanh dịch vụ logistics Kinh doanh dịch vụ logistics có thể đảm nhiệm một, một phần hoặc toàn bộ các công đoạn từ nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá trong chuỗi logistics. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics có thể xây dựng các chuỗi hoạt động logistics dựa trên cơ sở thiết lập nguồn lực, công nghệ của mình với các thương nhân khác một cách có hệ thống. Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho DN hoặc khách hàng của DN thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau. * Mua sắm nguyên vật liệu Mua sắm nguyên vật liệu đầu vào của quá trình logistics là một hoạt động tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến khách hàng nhưng lại có vai trò quyết định đối với toàn bộ hoạt động logistics.
Quy trình của khâu mua sắm nguyên vật liệu bao gồm: tìm kiếm các nhà cung cấp khác nhau ( đa dạng để có nhiều sự lựa chọn), lên kế hoạch và đặt mua nguyên vật liệu, lựa chọn phương tiện phù hợp để vận chuyển, tiến hành nhập kho, chuẩn bị nơi lưu giữ hàng hóa, thiết lập điều kiện để bảo quản quản hàng và cuối cũng là chuyển tới người dùng. Cần phải quản lý hệ thống thông tin có liên quan tới hàng hóa, lên kế hoạch và kiểm kê số hàng đang tồn kho, tận dụng các các loại hàng tồn kho. Hoạt động này bao gồm mua sắm hàng hoá và hoạt động thu mua (Procurement). Thu mua là sự phát triển mở rộng chức năng mua hàng bao gồm: mua sắm, vận chuyển, dự trữ và tất cả các hoạt động có liên quan đến 9 việc nhập vật tư đầu vào.
Bước phát triển cao hơn của hoạt động thu mua là Quản trị cung ứng (Supply Management). Hoạt động này khi được mở rộng và sâu chuỗi giữa nhiều tổ chức thì sẽ hình thành khái niệm Chuỗi cung ứng (Supply chain) - là quy trình phối hợp, tổ chức và kiểm soát sự chu chuyển của NVL, thành phẩm và các thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên qua các khâu trung gian đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu. * Dịch vụ khách hàng Thị trường ngày càng mở rộng sự cạnh tranh về giá cả và dịch vụ. Do đó vai trò của dịch vụ khách hàng ngày càng quan trọng.
Mục đích của hoạt động này là tạo ra quá trình mua bán, trao đổi được thông suốt và làm gia tăng giá trị của sản phẩm. Các công việc liên quan đến dịch vụ khách hàng gồm: tìm hiểu và xác định nhu cầu thị trường, xây dựng mục tiêu và kế hoạch dịch vụ khách hàng; giới thiệu và cung cấp dịch vụ khách hàng, chăm sóc, tạo uy tín với khách hàng; lắp đặt và sửa chữa và bảo hành các dịch vụ khác. * Quản lý hoạt động dự trữ Quản lý hoạt động dự trữ là một bộ phận của hoạt động logistics nhằm quản lý việc dự trữ NVL, bán thành phẩm và hàng hoá trong sản xuất và lưu thông. Mục đích của hoạt động quản lý vật tư, NVL là đảm bảo cho sản xuất và lưu thông được diễn ra liên tục, hiệu quả, cân đối cung cầu.
Quản lý kho hàng trong hoạt động logistics bao gồm: thiết lập mạng lưới kho và chọn vị trí kho hàng về số lượng và quy mô; thiết kế lắp đặt các thiết bị kho hàng; tổ chức việc sản xuất nhập, lưu kho và bảo quản hàng hoá; thực hiện các công việc thống kê hàng hoá. Dự trữ dữ liệu giúp cho chuỗi các hoạt động được liền mạch. Dự trữ sản Dự trữ sản Dự trữ Dự trữ bán Nguyênvật phẩm phẩm thành liệu trong khâu trong khâu phẩm sản xuất lưu thông 10 Hình 1.2: Các loại dự trữ chủ yếu theo vị trí trong hệ thống logistics DN cần phải biết lên kế hoạch dự trữ cho phù hợp với từng thời điểm nhằm tránh tình trạng tồn đọng vốn. Quản trị dự trữ trong logistics đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng về chi phí dự trữ logistics và kiến thức bao quát về tổng chi phí để có thể đưa ra được những quyết định về thiết kế hệ thống logistics, các dịch vụ khách hàng, số lượng và vị trí kênh phân phối, mức dự trữ, hình thức dự trữ và cách thức vận tải.
* Dịch vụ vận tải Quản lý dịch vụ vận tải là khâu trọng yếu nhất của hoạt động logistics nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phối hàng hoá đúng thời điểm, an toàn, đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng.