CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 LÝ DO NGHIÊN CỨU Sự phát triển của các ứng dụng công nghệ đã tạo ra sự biến đổi sâu sắc về thói quen và sở thích của người tiêu dùng. Ngày càng có nhiều người quen với việc tương tác thông qua các phương tiện kỹ thuật số để chia sẻ thông tin về bản thân, thực hiện các giao dịch của họ với các cơ quan chức năng, mua sắm trực tuyến hoặc truy cập các dịch vụ mới. Vai trò hàng đầu trong xu hướng này là sự thâm nhập của các thiết bị di động thế hệ mới, tiêu biểu là ở các nền kinh tế phát triển, nơi có sẵn các mạng di động với giá cả cạnh tranh. Trong bối cảnh lượng người tiêu dùng thích nghi với tương tác kỹ thuật số trong một số lĩnh vực của cuộc sống ngày càng tăng, khách hàng phát sinh nhu cầu các dịch vụ tài chính luôn sẵn sàng 24/7 và thân thiện với người dùng như các mạng xã hội hoặc email mà họ sử dụng hằng ngày.
Trên thực tế, vai trò của mạng xã hội đã có tác động cấp số nhân đáng kể đối với sự ra đời của số hóa trong một số ngành, trong đó các giải pháp kỹ thuật số tài chính ngân hàng đã trở nên quen thuộc và gắn bó với đời sống hàng ngày của người tiêu dùng (Skinner, 2014 ). Một yếu tố chính khác đã giúp mang lại quá trình chuyển đổi kỹ thuật số một cách lớn lao là sự thâm nhập của các thiết bị di động. Theo số liệu từ Skinner (2014), tỷ lệ thâm nhập trung bình của điện thoại di động trên toàn thế giới đang đạt tới 70% và hiện tượng này đã trở thành nền tảng để chạy các phát triển ứng dụng di động mới được sử dụng vượt xa giao tiếp xã hội. Điều này được minh chứng bằng thực tế rằng, theo một cuộc khảo sát của Bain & Company (2014) đối với người tiêu dùng kỹ thuật số từ 22 quốc gia, việc sử dụng các ứng dụng ngân hàng di động năm 2014 đã tăng 19% so với năm 2013.
Bối cảnh hiện tại do đại dịch COVID-19 đã tạo ra sự thay đổi sâu sắc lĩnh vực ngân hàng, một nhu cầu cấp thiết đối với dịch vụ tài chính là bổ sung thêm các tính năng mới nhằm mục đích thích ứng với kỷ nguyên kỹ thuật số. Khủng hoảng sức khỏe đã khuếch đại xu hướng số hóa cho cả người tiêu dùng và các tổ chức tài chính, nhằm tìm kiếm các giải pháp đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh trong điều kiện dịch bệnh phức tạp. Công việc từ xa đã xác định sẽ được đưa vào hệ thống công nghệ số ngân hàng để đem lại cho khách hàng và ngân hàng sự an toàn và không bị gián đoạn trong quá trình thực hiện các giao dịch. 1 Trong bối cảnh đó, việc số hóa hệ thống ngân hàng phải được duy trì bằng các kỹ năng số và sự tích hợp công nghệ số vào hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng kỹ thuật số là sản phẩm cải tiến mới trong ngành dịch vụ tài chính. Với lợi ích mà công nghệ số mang lại, người dùng ngân hàng kỹ thuật số nhận được sự dễ dàng trong giao dịch tài chính. Ngân hàng kỹ thuật số cung cấp dịch vụ cho người dùng truy cập dữ liệu tài chính thông qua di động, thẻ tín dụng để mua sắm trực tuyến, quản lý tài khoản từ xa, chuyển tiền sang ngân hàng khác, sử dụng các giao dịch ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến ngân hàng dễ dàng. Sự phát triển của ngân hàng kỹ thuật số là tích cực kể từ khi nó lần đầu tiên ra mắt.
Có thể thấy điều này thông qua số lượng người dùng ngân hàng số ngày càng tăng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có những phản đối về hệ thống ngân hàng kỹ thuật số do các vấn đề tội phạm mạng, lo sợ bị đánh cắp, xử lý dịch vụ khách hàng kém. Khách hàng có thể gặp bất lợi đặc biệt là vấn đề an toàn giao dịch, bảo mật thông tin, nạp tiền vào tài khoản, giao dịch phụ thuộc vào điện thoại thông minh và đường truyền internet. Trong khi nếu mọi người sử dụng ngân hàng thông thường thì sẽ an toàn hơn rất nhiều vì đã có người sắp xếp dữ liệu tài chính và có ngân hàng vật lý.
Ngân hàng số đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Và nó là một công cụ hữu hiệu, khả thi nhất để gia tăng giá trị, lợi ích cho khách hàng và ngân hàng. Việc áp dụng ngân hàng kỹ thuật số làm nền tảng cho các dịch vụ ngân hàng đã tiếp tục gia tăng trên toàn cầu khi người tiêu dùng ngày càng chấp nhận sử dụng các kênh điện thoại và internet trong việc giao dịch ngân hàng. Mặt khác, các ngân hàng có xu hướng mở rộng hoạt động chuyển từ các hoạt động ngân hàng truyền thống sang áp dụng ngân hàng kỹ thuật số chủ yếu để cắt giảm chi phí và mở rộng thị phần khách hàng am hiểu công nghệ.
Mặc dù tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng nhìn chung có nhiều chuyển biến tích cực, song sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại cũng ngày càng gia tăng theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Để đối phó với những thách thức đang gia tăng trong ngành ngân hàng, mỗi ngân hàng thương mại đã có động lực tìm kiếm các cơ hội mới để tăng trưởng lợi nhuận, chẳng hạn như tăng cường tương tác với khách hàng bằng các dịch vụ đổi mới tích hợp với trải nghiệm thực tế. Cuộc cách mạng về ngân hàng, công nghệ sử dụng nhiều hơn và các quy định quản lý mở hơn 2 sẽ làm giảm các rào cản gia nhập thị trường, có thêm nhiều chủ thể tham gia. Sự xuất hiện các nguồn dữ liệu khổng lồ và được tích hợp xử lý thu thập tự động, phân tích bởi công nghệ số sẽ tạo ra bước ngoặt về phát triển doanh thu trên quy mô lớn.
Một số ngân hàng đã nhìn thấy cơ hội để tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm ngân hàng kỹ thuật số hay còn gọi là ngân hàng ảo. Tác động của công nghệ thông tin đối với chuỗi giá trị và mô hình kinh doanh đang thay đổi các giới hạn tốc độ phát triển hiện có giữa các ngành. Đặc biệt, công nghệ số được dự báo sẽ có một trong những tác động lớn nhất đến lĩnh vực dịch vụ tài chính, tổ chức lại chuỗi giá trị với các tác nhân mới. Số hóa đã dẫn đến sự chuyển đổi cơ bản của các sản phẩm cốt lõi và chuỗi giá trị của họ.
Xuất phát từ nghiên cứu và tình hình thực tế đã cho thấy vai trò then chốt của ngân hàng số đối với sự phát triển của ngành ngân hàng gần đây đã được ghi nhận, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm định tác động của các giao dịch công nghệ số đối với kết quả hoạt động kinh doanh ngân hàng.2 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là: Nghiên cứu hiệu ứng của nền tảng công nghệ số đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại các quốc gia đang phát triển và Việt Nam, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Sử dụng mô hình POOL, FEM, REM, FGLS để xem xét tác động của giao dịch ngân hàng thực hiện bằng hình thức công nghệ số đến doanh thu tiền gửi và cho vay của ngân hàng. Kết quả cho thấy các sản phẩm và dịch vụ linh hoạt của ngân hàng số mang lại nhiều lợi ích, với mức độ tương tác cao, không chỉ hỗ trợ mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, mà còn nâng cao doanh thu hoạt động của ngân hàng.
Để đạt được mục tiêu, nghiên cứu cần giải quyết được các mục tiêu cụ thể sau: (1) Xác định hiệu ứng của nền tảng công nghệ số đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại các quốc gia đang phát triển và Việt Nam. (2) Đo lường mức độ tác động của ứng dụng công nghệ số đối với kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại các quốc gia đang phát triển và Việt Nam. 3 (3) Đánh giá tác động và hàm ý chính sách của chuyển đổi công nghệ số đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại các quốc gia đang phát triển và Việt Nam.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu tác động của công nghệ số ngân hàng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nghiên cứu có 4 biến số, cụ thể là TOTAL DL; CARD; NO MI và VAL MI.
Nghiên cứu kiểm định mức độ công nghệ số ngân hàng tăng lên thể hiện thông qua: tổng số tài khoản thẻ được mở tại ngân hàng của quốc gia, tổng số tài khoản thực hiện giao dịch bằng hình thức công nghệ số thông qua ngân hàng của quốc gia, tổng giá trị thực hiện giao dịch bằng hình thức công nghệ số thông qua ngân hàng của quốc gia sẽ có tác động đến hoạt động của các ngân hàng các quốc gia thông qua việc gia tăng doanh số tiền gửi và tiền cho vay của các ngân hàng các quốc gia. Phạm vi nghiên cứu là tác động của dịch vụ công nghệ số ngân hàng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng của 11 quốc gia đang phát triển: Argentina; Brazil; Hungary; India; Mexico; Russia; Turkey; Indonesia; Malaysia; Thái Lan; Việt Nam, dữ liệu được lấy giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu tiến hành từng bước.
Các bước này bao gồm: (1) Thiết lập ma trận hệ số tương quan thể hiện mức độ tương tác của các biến độc lập với nhau. (2) Tiến hành hồi quy ước lượng OLS trên dữ liệu gồm nhiều đối tượng và (3) Từ kết quả của các mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thực hiện các kiểm định F (để lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM), kiểm định Hausman (để lựa chọn giữa REM và FEM) và cuối cùng lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp. (4) Tiến hành các kiểm định của mô hình hồi quy: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến; Kiểm định hiện tượng phương sai của sai số thay đổi; Kiểm định hiện tượng tự tương quan. (5) Phân tích kết quả mô hình.