CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Tổng quan chung về logistics và dịch vụ logistics 1. Khái niệm logistics và dịch vụ logistics Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều.
Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm,.trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế.
Theo thống kê của Công ty Armstrong & Associates (Hoa Kỳ), tổng dung lượng thị trường logistics bên thứ 3 (Third Party Logistics – 3PL) của Hoa Kỳ tăng trưởng với tốc độ 18%/năm và đạt 77 tỷ USD trong năm 2003. Tuy nhiên, một điều khá thú vị là logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộn rãi trong 2 cuộc đại chiến thế giới để di chuyển quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến. Hiệu quả của hoạt động logistics, do đó là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trường.
Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh. Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics: Theo Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ (The Council of Logistics Management CLM in the USA): “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc một cách có hiệu quả về mặt chi phí của dòng lưu chuyển, việc dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm… từ điểm khởi đầu 1 của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được những yêu cầu của khách hàng”. Tài liệu của Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (UNESCAP) có định nghĩa: “Logistics là hoạt động quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng”.
Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đàu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho, phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại”. Theo tác giả Donal J.Bowersox – CLM Proceeding: “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và dòng thông tin tương ứng trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất.” Theo quan điểm “5 đúng” (5 Right): “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm.” Theo khái niệm của Liên hợp quốc được sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế về Vận tải đa phương thức và quản lý Logistics tổ chức tại Đại học Ngoại thương Hà Nội tháng 10/2002: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.” Luật Thương mại Việt Nam 2005 không đưa ra khái niệm “Logistics” mà đưa ra khái niệm về “Dịch vụ Logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng.” (Điều 233 – Luật Thương mại Việt Nam năm 2005) Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về logistics, tuy nhiên chưa có sự phân định rõ ràng các khái niệm này và chưa có các định nghĩa thống nhất về dịch vụ logistics. Do đó, chúng ta cần tiếp cận logistics và dịch vụ logistics theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn 2 Thư viện ĐH Thăng Long khách hàng và các dịch vụ liên quan đến hàng hóa được tổ chức hợp lý và khoa học nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa một cách hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm một chuỗi các dịch vụ được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với các khâu của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong nền sản xuất xã hội. Mục đích của logistics là giảm chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời. Định nghĩa về logistics sẽ luôn thay đổi để phù hợp với quá trình phát triển của chính nó cũng như sự biến động của nền kinh tế thế giới. Sự hình thành và phát triển logistics Logistics ngày nay được biết đến rất nhiều trong lĩnh vực kinh doanh, đây được xem như là một phương thức kinh doanh mới đem lại lợi nhuận rất lớn cho doanh nghiệp.
Cùng với tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới, logistics ngày càng mở rộng và nâng cao, trở thành một ngành dịch vụ chiếm vai trò quan trọng không thể thiếu trong sự vận động của giao thương quốc tế. Tuy nhiên, nguồn gốc ra đời của logistics lại rất đặc biệt. Lý do đầu tiên để logistics được hình thành không phải xuất phát từ cung ứng cho hoạt động thương mại mà là để phục vụ chiến tranh. Trong các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế La Mã và Hy Lạp, những binh lính mang chức danh Logistikas có nhiệm vụ cung ứng và phân phối vũ khí, nhu yếu phẩm cho quân đội và thuật ngữ logistics cũng có nguồn gốc xuất phát từ đây.
Tưởng chừng logistics là công việc đơn giản nhưng lại có vai trò rất lớn trong quân sự, vì nếu có chút thiếu sót, chậm trễ thì phải đánh đổi bằng sự sinh tồn của quân đội nhưng đồng thời, nếu tận dụng và quản lý tốt hoạt động này thì sẽ mang lại lợi ích đáng kể. Napoleon đã từng định nghĩa “Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội” và ông cũng đã từng nói “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistics”. Trong hai cuộc đại chiến thế giới vai trò của logistics ngày càng rõ nét khi quân đội hậu cần của quân đội Mỹ và đồng minh đã hoạt động hiệu quả hơn quân Đức, bằng sự ưu thế trong việc cung cấp quân nhu, đạn dược, vũ khí đúng thời điểm mà quân đồng minh đã chiếm ưu thế hơn trong trận chiến. Hiệu quả của hoạt động logistics là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại chiến trường.
Cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie tháng 6/1944 chính là nhờ sự nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu cần và quy mô của phương tiện hậu cần được triển khai. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics 3 của họ trong tái thiết kinh tế thời hậu chiến. Đây cũng là lúc hoạt động logistics trong thương mại được ứng dụng và triển khai. Trước những năm 1950, công việc của logistics chỉ đơn giản là một hoạt động chức năng đơn lẻ.
Trong các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn thì vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học về quản trị logistics một cách hiệu quả. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản lý cuối thế kỷ XX đã tạo ra cho logistics một bước phát triển mới, có thể gọi đó là giai đoạn phục hưng của logistics (logisticsal renaissance). Trong chiến tranh Việt Nam, hai người đầu tiên ứng dụng thành công logistics là Quang Trung (Nguyễn Huệ) và đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã ứng dụng nguyên lý logistics dẫn đến thành công vang dội là cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh (1789) và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và chiến dịch giải phóng miền nam thống nhất đất nước trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Sau những hiệu quả đạt được trong lĩnh vực quân sự, logistics đã được nghiên cứu mở rộng ứng dụng trên lĩnh vực kinh doanh trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất, mua bán hàng hóa.
Logistics được dịch nôm na là “hậu cần” nhưng không phản ánh hết đầy đủ ý nghĩa vì thế nên ở Việt Nam vẫn sử dụng nguyên mẫu từ “logistics”. Nếu giữa thế kỷ XX rất hiếm doanh nghiệp hiểu được logistics là gì thì đến cuối thế kỷ này, logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong sản xuất và dịch vụ. Thuật ngữ “logistics" đã được phát triển, mở rộng với nghĩa là quản lý “management”.