Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về dịch vụ logistics đường biển. Chương 3: Phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ logistics đường biển tại Công ty Cổ phần Kioway. Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển tại Công ty cổ phần Kioway.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ logistics đường biển 2. Khái niệm dịch vụ logistics và dịch vụ logistics bằng đường biển Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy lạp – logistikos và đã được dùng ở Anh từ thế kỷ 17, phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Tại Việt Nam, khái niệm về dịch vụ logistics được Luật Thương mại năm 2005 trình bày theo Điều 233 như sau: “dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy, dịch vụ logistics được hiểu là hoạt động thương mại mà các chủ thể kinh doanh thực hiện các chuỗi hoạt động liên tục và có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học thông qua các bước nghiên cứu như: hoạch định, tổ chức, quản lý thực hiện, kiểm tra giám sát, kiểm soát, và hoàn thiện. Đây là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một doanh nghiệp tổ chức, từ quá trình xây dựng chiến lược đến các hoạt động cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thị trường khách hàng. Từ các khái niệm trên, dịch vụ logistics đường biển được hiểu là việc thương nhân tổ chức một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển bằng đường biển ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam. Các hoạt động chủ yếu bao gồm vận chuyển trên biển, vận chuyển nội địa từ giữa cảng và kho, nhà máy, làm các thủ tục hải quan, giấy tờ cần thiết và các dịch vụ có liên quan khác.
Đặc điểm, vai trò của dịch vụ logistics và logistics bằng đường biển 2. Đặc điểm của dịch vụ logistics 6 Là một loại dịch vụ đặc thù, tuy nhiên dịch vụ logistics vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của loại hình dịch vụ nói chung, cụ thể gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, tính vô hình: Dịch vụ logistics không phải là một sản phẩm vật chất nên khách hàng không thể cầm nắm, không thể hình dung trước được dịch vụ logistics là một sản phẩm như thế nào mà phải chờ đợi kết quả của quá trình vận chuyển, lưu kho. Sau khi sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ logistics được cung ứng qua các tiêu chí như: thời gian giao nhận, độ an toàn của hàng hóa, tính chính xác và nhanh chóng của việc hoàn thiện các chứng từ, mức độ hỗ trợ khách hàng… Thứ hai, tính không thể tách rời: Quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics diễn ra đồng thời chính là đặc điểm về tính không tách rời. Bởi vậy cả khách hàng và công ty cung cấp dịch vụ logistics đều rất khó để có thể dự đoán và tính toán kỹ lưỡng về thời gian cung ứng hay ngăn chặn các phát sinh cho lô hàng.
Thứ ba, tính không dự trữ được: Vì quá trình sử dụng và cung ứng diễn ra đồng thời nên dịch vụ logistics không thể dự trữ được. Điều này tạo nên sự mất cân đối cung - cầu về dịch vụ trong những thời điểm khác nhau. Ví dụ thời điểm nhập hàng cao điểm cuối năm để chuẩn bị cho dịp tết nguyên đán cũng là giai đoạn có nhu cầu cao về dịch vụ logistics, trong khi những tháng đầu năm, sau tết lại có mức nhập hàng thấp hơn, vì thế tình trạng doanh nghiệp dịch vụ logistics lúc khan hiếm khách hàng, lúc lại bị quá tải, không đáp ứng được nhu cầu vẫn diễn ra. Đặc điểm của dịch vụ logistics đường biển Ngoài những đặc điểm cơ bản của dịch vụ logistics nói chung được trình bày ở phần trên, dịch vụ logistics đường biển còn có một số đặc điểm riêng khác như: Quy mô vận chuyển lớn: vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có năng lực chuyên chở lượng hàng hóa lớn trên mỗi hành trình so với các phương thức khác.
Cụ thể, một con tàu container Panamax có thể vận chuyển tới 4.400 TEU, tương đương với 88. Trong khi đó, một chiếc máy bay chở hàng Boeing 747-8F chỉ có thể vận chuyển tối đa 137 tấn hàng hóa. 7 Chi phí vận chuyển thấp: Bởi lượng hàng hóa trên mỗi chuyến tàu là tương đối lớn, chi phí vận chuyển bằng đường biển có giá cước cạnh tranh so với những phương thức khác, dựa trên tương quan về chi phí vận chuyển và công suất chuyên chở ($/tons) trên mỗi đơn vị hàng hóa. Phù hợp với hàng hóa cần vận chuyển qua hành trình dài, liên lục địa: Tải trọng mỗi con tàu tăng lên đồng nghĩa với việc chúng không ngừng được cải tiến để vượt trên những con đường xa hơn, những khu vực có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hơn mà phương thức khác khó có thể đảm nhận.
Tiếp nhận đa dạng chủng loại hàng hóa: Trên thế giới có đa dạng những loại hình container và tàu biển với kết cấu và chức năng phù hợp với hầu hết các chủng loại hàng hóa. Các tuyến đường vận tải biển đều là tuyến đường tự nhiên, không tốn chi phí khai thác và bảo trì bảo dưỡng. Tuy nhiên, những hải cảng hay cơ sở hạ tầng tại đất liền cần được đầu tư để tận dụng tối ưu vị trí tuyến đường. Hoạt động logistics đường biển còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: So với phương thức khác như đường bộ, môi trường logistics đường biển chịu ảnh hưởng tương đối lớn bởi các yếu tố như thời tiết, thiên tai, các yếu tố thủy văn trên mặt biển.
Tốc độ vận chuyển của tàu biển còn thấp: để đảm bảo an toàn khi di chuyển trên mặt biển, hầu hết tốc độ của những con tàu chở hàng vẫn còn hạn chế so với những phương thức khác, thường chỉ 20 -30 hải lý/ giờ. Vai trò của dịch vụ logistics đường biển Thứ nhất, dịch vụ logistics đường biển góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội. Logistics đường biển là công cụ liên kết, luân chuyển dòng hàng hóa giữa các quốc gia, khu vực. Nhờ vậy, các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu thông qua việc cung cấp hàng hóa (gồm các nguyên nhiên vật liệu, các loại bán thành phẩm, hàng hóa, …) phục vụ hoạt động sản xuất, phân phối, mở rộng thị trường.
Thứ hai, đóng góp lớn vào GDP, nâng cao năng suất lao động của quốc gia. Dịch vụ logistics đường biển là loại hình vận chuyển hiệu quả, tiết kiệm chi phí và vận chuyển được 8 khối lượng lớn hơn so với các loại hình khác, các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển gián tiếp giúp tăng cường năng suất lao động do hàng hóa có thể được luân chuyển dễ dàng từ đầu người gửi tới người nhận. Đồng thời nó giúp giá cả của hàng hóa giảm do chi phí vận chuyển thấp từ đó giúp các sản phẩm trong nước bán được với mức giá cạnh tranh hơn, qua đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Thứ ba, giảm chi phí logistics.
Chi phí logistics chiếm một tỷ lệ khá lớn trong giá thành của một sản phẩm. Vì thế sự ra đời của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics đường biển-loại hình tốn kém ít chi phí vận chuyển nhất, sẽ giúp cho hoạt động logistics trở nên chuyên nghiệp hơn, tránh sự chồng chéo, giảm ách tắc trong chuỗi. Thứ tư, góp phần mở rộng thị trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các công ty thương mại, các công ty sản xuất nếu muốn mở rộng thị trường cho mình thì cần phải có dịch vụ logistics hỗ trợ.
Dịch vụ logistics nói chung và logistics đường biển nói riêng là công cụ giúp dịch chuyển hàng hóa từ khu vực này đến các thị trường mới đúng với yêu cầu về địa điểm và thời gian đã đặt ra một cách dễ dàng. Dịch vụ logistics đường biển phát triển sẽ giúp cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường mới, nâng cao mức hưởng thụ người tiêu dùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ năm, giúp doanh nghiệp gia tăng hiệu quả trong cơ chế quản lý, tối thiểu hóa chi phí trong quá trình sản xuất qua đó tăng cường sự cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường. Sở hữu một chuỗi dịch vụ logistics hoàn thiện, ít sai sót sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng trong việc kiểm soát, tăng độ chính xác trong các quyết định như số lượng đầu vào, hành trình vận chuyển, tồn kho,.
Qua đó doanh nghiệp có thể hạn chế các chi phí phát sinh, giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình kinh doanh. Phân loại dịch vụ logistics Theo Điều 3, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, các dịch vụ logistics bao gồm: 1. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay. Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. Dịch vụ chuyển phát. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan).
Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.
Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ. Dịch vụ vận tải hàng không. Dịch vụ vận tải đa phương thức.
Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.