ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh răng miệng (BRM) là bệnh phổ biến, gặp khoảng 80 % dân số trên thế giới, ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội. BRM hay gặp nhất là bệnh sâu răng và viêm lợi, bệnh mắc rất sớm, ngay từ khi trẻ bắt đầu mọc răng, nếu không được khám phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển gây biến chứng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, sức khoẻ và thẩm mỹ của trẻ sau này [2], [13], [43]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hiện nay có khoảng 5 tỷ người trên thế giới mắc bệnh răng miệng, tập trung chủ yếu tại các nước Châu Á và Châu Mỹ La Tinh, ở các nước phát triển cũng không thua kém với 60-90 % trẻ em trong độ tuổi đi học mắc bệnh [56]. Bệnh sâu răng đang là vấn đề được Chính phủ các nước trên thế giới quan tâm đưa ra nhiều biện pháp để giải quyết [28], [31], [45].
BRM là nguyên nhân gây mất răng, giảm hoặc mất sức nhai ở người trưởng thành cũng như trẻ em, gây ra những khó chịu đến ăn uống, nói, và nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe học sinh. Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và viêm lợi còn ở mức cao trên 70 % dân số và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây, nhất là ở những nơi chưa thực hiện tốt chương trình Nha học đường như ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người [24], [25], [26], [28]. Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9 %, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ từ 6-8 tuổi là 25,4 %, tỷ lệ này gia tăng theo tuổi và lên tới 69 % ở lứa tuổi 15-17. Tỉ lệ bệnh viêm lợi là 45 % và thấy rằng nhu cầu điều trị BRM lớn và cấp bách [49], [51].
Phòng bệnh răng miệng bằng các biện pháp dự phòng là quá trình tương đối đơn giản, không phức tạp, chi phí thấp, dễ thực hiện tại cộng đồng, đặc biệt tại các trường học đã đem lại hiệu quả cao. Do đó phòng bệnh răng miệng sớm ngay ở lứa tuổi học sinh khi mới cắp sách đến trường là chiến lược khả thi nhất đã được WHO khuyến cáo triển khai nhằm nâng cao sức khỏe học đường [48], [55], [56]. Các nghiên cứu can thiệp đều cho thấy nếu làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe thì tỷ lệ bệnh răng miệng sẽ giảm. Việc đẩy mạnh các hoạt 2 động phòng BRM đặc biệt là nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh ngay từ khi bắt đầu đi học là cần thiết cho sức khoẻ, giảm gánh nặng cho ngành Y tế và giảm chi phí cho xã hội góp phần cải thiện sức khoẻ cộng đồng nói chung và học sinh nói riêng [16], [13].
Yên Bái là một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc sức khỏe. Tỷ lệ người dân tộc sinh sống tại tỉnh chiếm trên 50 %, sự hiểu biết về sức khỏe còn hạn chế. Hiện nay, Yên Bái có hai huyện nằm trong danh sách 61 huyện đặc biệt khó khăn của cả nước đó là huyện Mù Căng Chải và huyện Trạm Tấu. Tại hai huyện này, tỷ lệ người dân tộc Mông tập trung sinh sống trên 95 %, chiếm khoảng 80 % người Mông trong toàn tỉnh [40].
Nơi đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu cũng như sự hiểu biết của người Mông về sức khoẻ còn thấp đặc biệt là công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh chưa được triển khai đến các trường học, cộng động và người dân. Tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học người Mông cao trên 70 % [28]. Trong những năm qua, Yên Bái chưa có giải pháp, mô hình cụ thể nào để làm giảm tỷ lệ bệnh răng miệng này xuống một cách bền vững. Câu hỏi nghiên cứu ở đây là thực trạng BRM hiện nay và những biện pháp can thiệp nào để tăng cường sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học người Mông tại tỉnh Yên Bái.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông tỉnh Yên Bái", với các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng bệnh răng miệng học sinh tiểu học người Mông tỉnh Yên Bái năm 2011. Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng của học sinh tiểu học người Mông. Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh tiểu học người Mông.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm cơ bản về bệnh răng miệng 1. Khái niệm về bệnh răng miệng Bệnh răng miệng là bệnh tổn thương cả phần tổ chức cứng của răng (sâu răng) và các tổ chức quanh răng như viêm lợi, chảy máu lợi. Bệnh răng miệng mắc rất sớm từ khi trẻ sinh ra nếu không được vệ sinh sạch sẽ bệnh có thể tiến triển nặng hơn và gây ra các biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mỹ và học tập của trẻ sau này.
Khái niệm về bệnh sâu răng Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sự huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên quan đến sự di chuyển các Ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ. Sâu răng làm tổn thương, tiêu huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng là tổ chức không có tế bào), tạo nên lỗ hổng trên thân răng. Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng.
Bệnh không tự khỏi. Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi [18], [30]. Khái niệm về bệnh viêm lợi - Viêm lợi là tổn thương các tổ chức phần mền xung quanh răng. Viêm lợi xuất hiện sớm hơn sâu răng, chỉ sau 7 ngày có mảng bám vi khuẩn mà không được lấy đi và chỉ tổn thương duy nhất ở tổ chức lợi.
Ở thời kỳ này, bệnh vẫn còn có thể phục hồi, nhưng nếu không điều trị sẽ dẫn đến tình trạng nặng hơn. Sự kích thích vi khuẩn ở mảng bám răng là nguyên nhân gây ra viêm lợi. Khi lợi viêm, sẽ có biến đổi giải phẫu như bờ viền lợi tròn, tấy đỏ và phù nề, mềm. Nhóm vi khuẩn thường kết hợp với viêm lợi là xoắn khuẩn Actinomyces (Gram dương, hình sợi) và Eikenella (Gram âm, hình que) [6].
4 - Viêm lợi hoại tử loét cấp tính đặc trưng bởi sự hoại tử của gai lợi, chảy máu tự phát, có mùi hôi. Người ta cho rằng đây là bệnh có liên quan đến stress. Bệnh này thường có tỷ lệ thấp ở các nước phát triển và cao hơn ở các nước chậm phát triển và trẻ em đói, nghèo - Viêm quanh răng là thời kỳ tiến triển nặng hơn của bệnh quanh răng: viêm lợi, viêm xương và các tổ chức khác giữ răng sẽ bị phá huỷ. Răng có thể bị rụng hoặc lung lay hoặc thay đổi vị trí hoặc răng có thể bị mất do sâu.
Ở thời kỳ này đòi hỏi những sự điều trị kết hợp với giữ cho khỏi mất răng [6]. Bệnh căn, bệnh sinh của sâu răng Sâu răng được coi là một tổn thương không thể hồi phục, và khi giải thích bệnh căn của sâu răng người ta dùng sơ đồ Keys, chú ý nhiều tới chất đường và vi khuẩn Streptococcus mutans, nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung chủ yếu vào chế độ ăn hạn chế đường, vệ sinh răng miệng kỹ nhưng hiệu quả phòng sâu răng vẫn hạn chế. Đƣờng Vi khuẩn Sâu răng Răng Hình 1. - Sau năm 1975: Sâu răng được coi là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể chia làm 2 nhóm: nhóm chính và nhóm phụ Nhóm chính: có 3 yếu tố phải đồng thời cùng xảy ra * Vi khuẩn: thường xuyên có trong miệng, trong đó Streptococcus mutans là thủ phạm chính.
5 * Chất bột và đường dính vào răng sau ăn sẽ lên men và biến thành acide do tác động của vi khuẩn. * Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trường miệng. Ở đây người ta thấy men răng giữ một vai trò quan trọng để chống lại các yếu tố gây sâu răng. Nhóm phụ: vai trò của nước bọt, di truyền, đặc tính sinh hoá của răng… Nhóm này tác động làm tăng hay giảm nguy cơ sâu răng.
* Vai trò của vi khuẩn và mảng bám răng (cao răng): Cũng từ sau năm 1975, White đã thay thế vòng tròn chất đường của sơ đồ Keyes bằng vòng tròn chất nền, nhấn mạnh vai trò của nước bọt, pH của dòng chảy môi trường quanh răng và vai trò của Fluor. Vi khuẩn Răng SR Chất nền Hình 1. Sơ đồ White [6], [18] Mảng bám răng là một màng mỏng bám trên bề mặt răng có chứa nhiều vi khuẩn nằm trên khung vô định hình từ mucoid nước bọt và polysaccharide (glucan) của vi khuẩn ngoài bào. Các chất đường từ thức ăn sẽ nhanh chóng khuyếch tán vào mảng bám, được vi khuẩn chuyển hoá thành acid (chủ yếu là acid lactic, ngoài ra còn có acid acetic và acid propionic).
Các acid sinh ra từ các chất có trên mảng bám răng có vai trò quan trọng trong việc gây bệnh sâu răng. Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố trên cùng tồn tại (Vi khuẩn, 6 Glucid và Thời gian). Vì thế cơ sở của việc phòng chống bệnh sâu răng là ngăn chặn 1 hoặc cả 3 yếu tố xuất hiện cùng lúc [6], [13], [16]. Sâu răng nếu không chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể còn gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm tủy răng, viêm quanh cuống, nhiễm trùng máu, mất răng.
Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng được giải thích theo sơ đồ: Hình 1. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng ( theo Fejerkor 2004) Theo sơ đồ trên, sâu răng xảy ra khi có sự kết hợp của các yếu tố: răng nhạy cảm, vi khuẩn trong mảng bám răng, thói quen ăn uống có hại và thời gian tác dụng của các yếu tố này lên răng.