CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 11. BỆNH SÂU RĂNG 1. Sinh bệnh học sáu răng Bệnh sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn phải có các yếu lố thuận lợi như chê' độ ãn uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng (VSRM) không tốt.
lính trạng sắp XÊ'P của răng khấp khểnh, chất lượng men răng kém và môi trường tự nhiên - nhất là môi trường nước uống có hàm lượng fluo thấp đã Lạo diều kiện cho sâu rãng phát triển. Trước nãm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu rãng là do chất dường, vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ Key (Hình 1.1): Thức an Vi khuẩn Men răng Hình ỉ, l: Sơ đổ Key - Sự phối hợp cả 3 yếu tố gây sâu răng Sau nảm 1975, đà tìm ra được nguyên nhản của sâu răng và được giải thích bằng sơ dổ WHITE như (Hình 1.2: Sờ đổ WHITE CYCLE (1975) Răng : Tuổi, fluo, dinh dưỡng vv„ Vi khuẩn: Streptococcus mutans. Chất nền: VSRM có sử dụng fluo, pH vùng quanh răng. Khả Hãng trung hoà của nước bọt.
Cơ chê' sinh bênh học sâu răng được thê hiện bằng hai quá trình huỷ khoáng và tái khoáng. Nếu quá trình huỳ khoáng Jớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu răng. Tóm tắt cơ chế sâu ràng như sau : Sâu răng = Huỳ khoáng > Tái khoáng (cơ chế hoá học và vật lý sinh học) 6 Các yếu tô' bảo vệ và các yếu tố gây mất ổn định làm sâu ring (Hình 1.3): 7 - Mảng bám vi khuẩn y - Chế độ ản nhiều đường / - Nước bọt thiếu hay a xít - A xít từ dạ dày lên miộng X/ \ - pH < 3 Các yếu tố bảo vệ: - Nước bọt - Khả năng kháng a xít của men răng - Trám bít hô' rãnh - Độ Ca**, NPO4 quanh răng - pH > 5,5 Hình 1.3: Các yêu tỏ' bảo vệ và các yếu tớ gây mất ổn định làm sâu ráng Để dánh giá tình trạng sâu răng người sử dụng chỉ sô' sau Chỉ số SMT (Sâu- Mất -Trám ràng vĩnh viễn), chí số smt (Sâu- Mất- Trám răng sữa): + Dùng để xác định tình trạng sâu răng trong quá khứ và hiện tại + Dùng cho rảng vinh viễn, dựa vào tổng số răng là 32, ràng chưa mọc, rang thừa, ràng sữa không tính trong chi số này. + Tiêu chuẩn đánh giá: + Răng có chấm đen, có lỗ mắc thám trầm khí thăm khám ở bất kỳ vị trí nào trên răng.
+ Rang mất không cùn trẽn cung hàm. + Rãng đã hàn nhưng sâu tái phát. + Răng dã được hàn và không sâu tái phát. + Chi sô' Sâu- Mất- Trám là tổng số răng: Sâu+ mất+ trám trung bình trên mỗi học sinh được khám.
8 Bảng Ll: Phân chia mức độ sâu răng theo chì sò SMT của WHO Mức độ SMT9- li tuổi Rất thấp 0,0 -1,1 Thấp 1,2-2,6 Trung bình 2,7 - 4,4 Cao 4,5 - 6,5 Rất cao > 6,6 1. Yếu tó' nguy cơ gáy sâu răng Ngày nay với sự tiến bộ cùa khoa học, người ta bict ràng sâu rãng chịu ảnh hưởng của nhiổu yếu tố liên quan với nhau : đặc tính sinh học, hoàn cảnh xã hội, hành vi, lảm lý và mức sống của đối tượng. Càng ngày, càng có nhiều yếu tô' nguy cơ được biết liên quan đến sâu ràng [14], [15]. Tuy nhiên từ kinh nghiệm lâm sàng của nha sỹ vể sự hiện diện số lượng và dô trầm trọng của sâu ràng người ta đã đánh giá được những yếu tô' nguy cơ sâu rãng nổi trội gổm : vi khuẩn, dinh dường, nguồn nước, sức để kháng của rãng và nước bọt.
Sự đánh giá giúp cho việc đề ra chiến lược điều trị tuỳ thuộc vào yếu tố nổi trội và tối ưu hoá việc sử dụng Fluor liệu pháp [4]. Contrcas B đã phân lích nhiều nguy cơ gây sâu răng trong dó có yếu tố Fluor của nước cùng với các yê'u tô' sinh học. xã hội, hành vi và tâm lý được nhấn mạnh nhiểu hơn cả [32]. Meser LB [36] đã nghiên cứu những nguy cơ gày đau răng ở trẻ em úc 2 thập kỉ qua, cho thây tình trạng sâu răng phụ thuộc vào tuổi và điều kiện sống.
Những thừ nghiêm để đánh giá nguy cơ sâu răng có thể dược đánh giá bẳng dự đoán, những dâu hiệu lâm sàng và tiền sử là dấu hiệu quan trọng để đánh giá nguyên nhân chính cùa sãu răng trong một cá nhân. Những nghiên cứu liên quan tới một số yếu tố, tiền sử sâu răng nhất là răng hàm vĩnh viễn thứ nhất trở thành yếu tô' tiên đoán tốt nhất cho sâu rang ở trẻ em. Cẩn thiết một nghiẻn cứu dọc theo vùng đánh giá những yếu tô' nguy cơ được xác định theo yỄu cẩu có thể không phải nằm trong nhóm có tỷ lẹ bệnh thấp. Đánh giá bất cứ nguy cơ nào cũng đi tói có biện pháp thích hợp để phòng bệnh.
9 Đánh giá nguy cơ sâu râng ở trẻ em là một phần trong việc đánh gìá sức khoẻ toàn thân, đặc biệt là tiền sử Fluor, thói quen vệ sinh răng miệng [13], 1. Tình hình sân răng ở trẻ em Sâu răng là một bệnh rất phổ biến ở các nước trẽn thế giới. Bệnh mắc từ rất sớm và mọi lứa tuổi, ở tre em ngay sau khi răng mọc cũng như ở người già. Tổ chức cứng cùa rãng bị phá huỷ tạo thành lỗ sau trèn răng.
Sâu răng là bệnh tổn thương không hổi phục đo đó khỏng được chữa trị và phòng bệnh kip thời, sâu răng sẽ tích luỷ ngày càng cao, Việc chữa răng rất tôh kém nhưng cũng không thể hổi phục - tái tạo lại tổ chức cứng của răng như trước. Sầu răng nếu không chửa kịp thời sẽ ảnh hưởng lớì súc khoẻ, có thể gây các biến chứng nguy hiểm. Đánh giá tình hình sâu răng và có biện pháp dự phòng phù hợp, hữu hiệu là phương pháp duy nhất hiện nay trên thế giới thực hiện để phòng chống bệnh răng miệng, • Tình hình sâu ràng của trẻ em trên thế giới hiện nay: Năm 1997 Zerfowski [40J cho thấy tần số sâu rang và nhu cầu điểu trị của học sinh 7- 10 tuổi ở vùng Tây Nam nước Đức như sau: 30,5%, nhóm trẻ sâu răng sữa và 16,3% sâu nhiều răng vĩnh viễn. Trẻ em nông thôn có tién sử sâu răng nhiều hơn và cần có những nỗ lực trong việc phòng ngừa cho nhóm có nguy cơ sâu răng cao.
Năm 1998 Whittle [38] đã nghiên cứu 1/5 học sinh của 7 trường trung học cơ sờ ở Salford, nước Anh thấy chỉ số SMT giảm như sau : 1988 : SMT từ 2,34 - 3,34 tương ứng mức độ trung bình 1997 : SMT chỉ còn 1,65 tương ứng mức độ thấp Một số tác giả nghiên cứu và đưa ra nhận định : tình hình sâu răng và chỉ số SMT tuổi 12 ở các nước công nghiệp hoá cao, nhiều nước ờ Châu Âu và cả nhũng nưóc trong khu vực như Malayxia, Singapore từ năm 1983 đến nãm 2000 có nhiéu biên động nhưng theo chiều hướng giảm xuống. Đó lù nhờ các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu. 10 • Tình hình sâu ràng của trẻ em ồ Việt Nam : Nãm 1981 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sừa ở một số tỉnh Miển Nam là 70,49%, ở Thuận Hải là 72,14% [12]. Lẽ Đình Giáp và cộng sự cho biết 75,85% trẻ 12 tuổi thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mắc sâu rãng vĩnh viên [19], Theo Wong H.Dchỉ sô' SMT tuổi 12 ờ trẻ em Việt Nam nãm 1982 là 1,8 [29].
Nhìn chung các nghiên cứu đểu cho thấy sâu răng ở Việt Nam là bệnh phổ biến. Kết quả nhiều nghiên cứu ở nhiều địa phương, nhiều lứa tuổi khi chưa có công tác nha học đường, lình trạng sâu răng ở trẻ em Việt Nam có chiểu hướng tăng lên. Sâu ràng ở miền Bắc nói chung thấp hơn so với miền Nam [1],[2],|5]. Đặc biệt có những điếu tra cơ bản đã cồng bố lình trạng sâu ràng trên phạm vi toàn quốc.
Qua điểu tra lần 1 nâm 1990 thấy tỷ lệ sâu răng ở tuổi 12 như sau: Miền Bắc: 43,33% ; STM: 1,15 ; Miền Nam : 76,33%. Toàn quốc : 55,69% ; SMT: 1,82 Từ nãm 1991 đến 1998, có nhiều nghiên cứu trên trẻ em từ 9 - 11 tuổi đưa ra tỷ lệ sâu rảng và chỉ số SMT ở một số địa phương như Yên Bái, Hoà Bình, Hà Nội, Nam Định, Đà Nẩng. và thấy tỷ lệ sâu răng giao động trong hoảng 34,54% đến 62%; SMT từ 1,33 đến 4,28 [6],[7]. Viện Răng - Hàm - Mạt Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu và thống kê sức khửẻ răng miệng Australia tiến hành điều tra bệnh răng miệng ở Việt Nam trong 3 năm 1999- 2001 thu được các kết quà ở bảng 1.2: Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quốc sau diều tra lần 2 (1999-2001) Răng sửa Răng vinh viên Tuổi n % sâu răng smt % sâu răng SMT 6-8 706 84,9 5.3: Tình trạng sâu ráng trẻ em vùng núi phía Bác Răng sữa Rang vinh viễn Tuổi n % sáu răng smt % sáu răng SMT 6-8 706 80,7 6.01 Kết quả nghiẺn cứu trên cho thấy rang lình trạng sâu ráng ở trẻ em còn rất phổ biến.
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, từ khí có chương trình nha học đường, trẻ em được chăm sóc ràng miệng nên tình trạng răng miệng của học sinh đã được cải thiện. Tuy vậy nhìn chung trong cả nước mới có khoảng 25% trẻ em được chăm sóc răng miệng. Còn lại khoảng 13 triệu trẻ em chưa được chăm sóc rãng miệng [25]. Với mục đích phòng bệnh đến năm 2010 của WHO là 90% trẻ em 5- 6 tuổi không bị sâu rang, Việt Nam phấn đấu năm 2010 đạt được các mục tiêu trẽn bằng cách phát triển chương trình nha học đường [24].
BỆNH QUANH RÀNG 1. Nguyên nhãn và những hiểu biết về bệnh quanh răng Người ta cho ràng bệnh quanh răng do nhiều nguyên nhân như chấn thương khớp càn, thiếu sinh tó' hoặc tăng cholesterol máu [33] và trực tiếp là mảng bám ỉI răng (màng bám vi khuẩn). Mảng bám rãng hình thành và phát triển đòi hỏì mói trường có chất dính dưỡng, đặc biệt là đường Saccharose. Theo thời gian, mảng bám lúc đẩu là màng vô khuẩn, sau khi hình thành trên mặt ráng tạo thành chất tựa hữu cơ cho vi khuẩn thâm nhập, định cư và phát triển.
Tuỳ theo thời gian, mảng bám có thể dày từ 100 - 200 pm. Thành phần vi khuẩn thay đổi theo thời gian.