Chương 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa, phân loại bệnh răng miệng và hội chứng thận hư tiên phát 1. Bệnh răng miệng Bệnh răng miệng bao gồm các tình trạng lâm sàng mạn tính tác động đến răng và miệng, trong đó, đặc biệt là bệnh sâu răng, bệnh viêm lợi, các nhiễm trùng răng miệng và ung thư miệng1. Theo báo cáo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới trong nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2017, bệnh răng miệng ảnh hưởng tới khoảng 3,5 tỉ người, trong đó sâu răng là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất với 2,3 tỉ dân có tình trạng sâu răng vĩnh viễn và hơn 530 triệu trẻ em có sâu răng sữa2.
Bệnh viêm lợi Viêm lợi là tổn thương đặc trưng bởi tình trạng viêm khu trú trong mô lợi mà không gây mất bám dính hay tiêu xương ổ răng. Viêm lợi là phản ứng đáp lại hoạt động của vi khuẩn có mặt trong màng sinh học tồn tại ở viền lợi và trong túi lợi18,19. Viêm lợi được phân làm hai loại: viêm lợi do mảng bám răng (Murakami và cộng sự năm 2018)20 và viêm lợi không do mảng bám răng (Holmstrup và cộng sự năm 2018)21. Viêm lợi do mảng bám răng là viêm lợi liên quan trực tiếp đến mảng bám do ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ toàn thân và tại chỗ, lợi phì đại do ảnh hưởng của thuốc.
Viêm lợi không do mảng bám răng là viêm lợi do rối loạn tăng trưởng/di truyền, do vi khuẩn đặc hiệu, miễn dịch, phản ứng quá mẫn, u lợi, do nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa, do tổn thương sang chấn, nhiễm sắc tố lợi22. Bệnh sâu răng Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức men, ngà răng, kết quả của quá trình hủy khoáng do axit sinh ra từ mảng bám thức ăn, đường và vi khuẩn. 4 Triệu chứng biểu hiện từ biến đổi màu sắc, tính chất của tổ chức men, ngà tới hình thành lỗ sâu trên răng. Sâu răng là một bệnh có thể dự phòng được23,24.
Bệnh khiếm khuyết phát triển men răng Khiếm khuyết phát triển men răng (KKPTMR) là các bất thường tạo ra do tổn thương cơ quan tạo men trong quá trình tạo men răng25. KKPTMR được biểu hiện dưới các dạng khác nhau như: thiểu sản men biểu hiện dưới nhiều mức độ và hình thái, từ men khuyết một hoặc nhiều hố, rãnh nhỏ có ranh giới rõ và men lỗ chỗ lan tỏa cho đến mất toàn bộ men răng25. Mờ đục men răng là tình trạng thiếu hụt về chất lượng men răng, chẳng hạn như kém khoáng hoá men răng, biểu hiện bằng sự mất tính trong mờ của men răng. Mờ đục men răng đặc trưng bởi các vùng màu trắng hoặc sẫm màu xuất hiện trên răng nhưng bề mặt men vẫn trơn và độ dày men răng bình thường.
Có hai loại mờ đục men răng là mờ đục ranh giới rõ và mờ đục mất ranh giới26. Các bất thường này ảnh hưởng đến vấn đề thẩm mỹ, nhạy cảm răng, các bất thường khác về răng mặt cũng như làm tăng khả năng sâu răng27. Hội chứng thận hư tiên phát 1. Định nghĩa Hội chứng thận hư tiên phát (HCTHTP) là bệnh cầu thận tổn thương mạn tính gây thoát protein từ máu ra nước tiểu, thường không có căn nguyên rõ ràng hay gặp nhất ở trẻ em (90,2%), không có biểu hiện hệ thống và đáp ứng tốt với liệu pháp corticosteroid trong điều trị bệnh 28.
Về cận lâm sàng, trẻ được chẩn đoán là HCTHTP khi có các chỉ số: + Protein niệu ≥ 50 mg/kg/24 giờ; + Hoặc Protein niệu/ Creatinin niệu ≥ 200 mg/mmol; + Albumin máu < 25 g/lít; + Ngoài ra có thể kèm theo các triệu chứng tăng lipid máu, tăng cholesterol máu (> 200mg/dL). Phân loại hội chứng thận hư tiên phát Phân loại theo diễn biến của bệnh: - Hội chứng thận hư khởi phát (lần đầu). - Hội chứng thận hư tái phát: là sau khi bệnh thuyên giảm mà protein niệu xuất hiện trở lại từ 2+ trở lên hoặc trên 50 mg/kg/ngày hoặc protein/creatinin nước tiểu > 200 mg/mol. + Tái phát xa, không thường xuyên: < 2 lần trong 6 tháng sau một đợt điều trị tấn công có đáp ứng hay tái phát < 4 lần trong 12 tháng.
+ Tái phát gần, tái phát thường xuyên: ≥ 2 lần trong 6 tháng sau một đợt tấn công có đáp ứng hay ≥ 4 lần trong 12 tháng. Phân loại theo đáp ứng với điều trị corticosteroid:29, 30 - Thể nhạy cảm với corticosteroid: điều trị tấn công với prednisolon 2 mg/kg/ngày trong vòng 4 tuần đến khi kết quả protein niệu về bình thường (âm tính hoặc vết). - Thể phụ thuộc corticosteroid: Tái phát thường xuyên với 2 lần liên tiếp trong liệu trình corticoid hoặc trong hai tuần sau khi ngừng thuốc. - Thể kháng corticosteroid: + Không thuyên giảm sau 4 tuần điều trị liều prednisolon 2 mg/kg/ngày + Thuyên giảm một phần sau 4 tuần điều trị với prednisolon 2 mg/kg/ngày nhưng không đạt được thuyên giảm hoàn toàn sau 6 tuần hoặc 4 tuần liều prednisolon và 3 liều methylprednisolon 15 mg/kg/ngày trong 3 ngày liên tiếp.
Dịch tễ học hội chứng thận hư tiên phát trẻ em thế giới và tại Việt Nam Hội chứng thận hư là bệnh cầu thận hay gặp nhất ở trẻ em với tỉ lệ mới mắc hàng năm là 2 - 7/100000 trẻ trên tổng tỉ lệ mắc bệnh là 16 trẻ trên một trăm nghìn trẻ được khảo sát5. Theo Chanchlani, cứ 100000 trẻ lại có 2 đến 6 16,9 trẻ mắc hội chứng này31. Sau thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XX, tỉ lệ mắc HCTH của trẻ từ 1 đến 18 tuổi ở Canada tăng gấp 2,4 lần (từ 2/100000 lên 4,7/100000 trẻ)32. Đa số trẻ mắc HCTH tiên phát, theo Kliegman, cứ 100000 trẻ dưới 16 tuổi lại có 1-3 trẻ mắc HCTH, trong đó 90,0% là HCTHTP 28.
Tại Việt Nam, chưa có nhiều số liệu về tỉ lệ mới mắc hàng năm của HCTHTP, tuy nhiên theo số liệu nghiên cứu trong 10 năm từ 1981 đến 1990, có 1414 trẻ mắc HCTH nhập Bệnh viện Nhi Trung Ương, chiếm 46,6% tổng số bệnh nhân của Khoa Thận - Tiết niệu, trong đó 1358 trẻ được chẩn đoán HCTHTP (96,0%) và 4,0% trẻ là HCTH thứ phát33. Theo Phạm Văn Đếm, trong giai đoạn 3 tháng đầu năm 2015 có 54 trẻ được chẩn đoán HCTHTP nhập khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện Nhi Trung Ương ở độ tuổi trung bình là 5,16 ± 3,51, tỉ lệ trai/gái là 1,57/134. Tổng quan bệnh răng miệng ở trẻ em mắc hội chứng thận hư tiên phát 1. Bệnh viêm lợi Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ bệnh viêm lợi và các chỉ số vệ sinh răng miệng (cao răng, mảng bám) ở trẻ mắc HCTHTP đều cao hơn so với trẻ khỏe mạnh.
Nguyên nhân thường do trẻ vệ sinh răng miệng kém. Mặc dù vậy, các tác giả kể trên đều đồng tình rằng ít khi hoặc không biểu hiện nặng nề hoặc chỉ biểu hiện ở mức trung bình trên trẻ mắc HCTHTP. Viêm lợi phì đại thường gặp ở những trẻ có sử dụng thuốc cysclosporin, nifedipin trong điều trị bệnh. Nghiên cứu năm 2020 trên 47 trẻ mắc HCTHTP (9,6 ± 3,9 tuổi) và 47 trẻ khoẻ mạnh (10,8 ± 3,7 tuổi) của tác giả Kaczmarek và cộng sự (CS)35 nhận thấy mặc dù trẻ HCTHTP có chỉ số viêm lợi (GI) cao hơn hai lần so với trẻ khoẻ mạnh (0,7 ± 1,0 so với 0,3 ± 0,6, p=0,05) nhưng tình trạng viêm lợi nhìn chung chỉ biểu hiện ở mức trung bình.
Thậm chí, trong số những trẻ mắc HCTHTP có tới 61,7% trẻ có mô lợi khoẻ mạnh, 8,5% viêm lợi nhẹ, 21,3% trẻ viêm lợi trung bình và chỉ 4 trẻ, tương ứng 8,5%, có tình trạng viêm lợi 7 nặng. Kaczmarek và CS cũng nhận thấy một mối tương quan thuận giữa tình trạng lợi và chỉ số cặn bám đơn giản (DI-S) có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, chỉ số cao răng đơn giản (CI-S) và chỉ số mảng bám mặt gần (API) của nhóm trẻ có bệnh lý thận35. Chỉ số GI, DI-S, CI-S và API ở trẻ mắc HCTHTP và trẻ khoẻ mạnh theo Kaczmarek và CS (2020)35 Chỉ số Nhóm trẻ mắc HCTH Nhóm chứng p GI 0,70 ± 1,00 0,30 ± 0,60 0,050 DI-S 1,80 ± 1,55 0,99 ± 0,92 0,011 CI-S 0,09 ± 0,31 0,06 ± 0,26 0,463 API (%) 54,00 ± 35,70 43,40 ± 27,60 0,050 Nghiên cứu năm 2018 của Güzel và CS trên 38 trẻ được chẩn đoán HCTHTP (11,5 ± 4,8 tuổi) và 52 trẻ khoẻ mạnh ở độ tuổi tương đương (11,6 ± 4,6 tuổi) cho thấy chỉ số lợi GI của nhóm trẻ HCTHTP là 1,1 ± 0,6 và cao hơn so với nhóm trẻ khoẻ mạnh cùng tham gia nghiên cứu (0,6 ± 0,7)14, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tại Việt Nam, tỉ lệ viêm lợi của trẻ mắc HCTHTP cũng cao, theo Phạm Thị Phượng và Tống Minh Sơn (2017)36: 90,7% trẻ mắc HCTHTP có viêm lợi, trong đó 76,6% trẻ có viêm lợi phân độ I; 78,2% trẻ dùng cyclosporin có phì đại lợi; 85,6% trẻ có cao răng.
Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI- S) là 2,90 ± 1,22, trong đó hơn 50% trẻ có chỉ số vệ sinh đơn giản kém; 37,3% ở mức trung bình và chỉ có 8,0% trẻ có chỉ số vệ sinh đơn giản tốt. Angelova và cộng sự, năm 2017 sau khi tiến hành nghiên cứu 24 trẻ mắc HCTHTP trên tổng số 116 trẻ mắc bệnh thận nhận thấy chỉ số mảng bám (PLI) của trẻ là 1,8 và chỉ số GI là 1,68. Năm 2015, khi so sánh giữa nhóm trẻ mắc HCTHTP và nhóm trẻ khoẻ mạnh cùng độ tuổi ở Ba Lan, tác giả Olczak-Kowalczyk13 thấy chỉ số mảng 8 bám (PLI) của trẻ mắc bệnh là 0,9 ± 0,6 và chỉ số lợi (GI) là 0,6 ± 0,7; cao hơn so với trẻ ở nhóm đối chứng (0,5 ± 0,7 cho chỉ số PLI và 0,2 ± 0,5 cho chỉ số GI), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Không có trẻ nào bị viêm lợi hoặc viêm nha chu nghiêm trọng, 28,1% trẻ mắc HCTHTP có túi lợi sâu hơn 4mm/răng.
Tình trạng viêm lợi trung bình gặp thường xuyên13. Theo nghiên cứu cắt ngang của nhóm tác giả Wiboon Weraarchakul và Wilawan Weraarchakul10 năm 2015 tại Thái Lan trên 97 trẻ mắc bệnh thận gồm 33 trẻ mắc HCTHTP, chỉ số mảng bám (PLI) là 1,4 ± 0,6, chỉ số cao răng là 0,3 ± 0,4; chỉ số lợi (GI) là 1,3 ± 0,4. Có 36,1% trẻ viêm lợi độ một, 39,1% trẻ viêm lợi độ hai, 19,1% trẻ viêm lợi độ ba và chỉ có 5,7% trẻ không có bệnh về lợi. Trong số 97 trẻ có 16,5% trẻ có lợi phì đại10.