Chương 1. Những vấn đề lý luận về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần. Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay. Kiến nghị xây dựng và hoạn thiện pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA CÁC GIAO DỊCH TIỀN CÔNG TY CỔ PHẦN 1.
Một số vấn đề pháp lý về công ty cổ phần 1. Sự hình thành của công ty cổ phần Công ty cổ phần là một loại hình chủ thể kinh doanh, ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Công ty cổ phần là một loại hình công ty phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển [1, tr.
Công ty cổ phần là một ý tưởng cách mạng diễn biến theo một quá trình rất dài, thậm chí ngay từ 3000 năm trước Công nguyên, từ người Assyria, Phoenicia rồi người Hy Lạp. Họ đã lập ra những tổ chức để kinh doanh thương mại ở vùng Địa Trung Hải [1, tr. Đến thời của người La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra những societas (hội xã) lúc đầu là để phụ các hiệp sĩ thu thuế nông nghiệp, sau đó là để đi chinh phục các lãnh thổ và đúc khí giới, áo giáp cung cấp cho các đoàn quân viễn chinh. Ở tầng lớp thứ dân, những người thợ thủ công và thương gia mở các collegia hay corpora (công ty), tự bầu ra người quản lý và được cấp phép hoạt động.
Theo William Blackstone, luật gia vĩ đại vào thế kỷ XVIII của Anh, thì vinh dự phát minh ra corpora (công ty – công ty cổ phần) hoàn toàn thuộc về người La Mã. Họ đã đưa ra những ý niệm nền tảng về luật lệ công ty, nhất là ý tưởng một nhóm người họp lại với nhau tạo nên một thực thể tách rời khỏi họ. Họ nối kết công ty với gia đình (familia) tạo ra đơn vị căn bản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của xã hội. Các socii (người cộng tác hoặc đối tác) giao một số lớn quyền quản lý cho các magister, để người sau điều khiển những người được họ ủy quyền tại các địa phương và lập báo cáo.
Công ty cũng có một hình thức trách nhiệm hữu hạn nào đó. Mặc dù có dấu tích từ thời La Mã cổ đại, nhưng công ty cổ phần mới chỉ được pháp luật thừa nhận khi nền dân chủ tư sản phát triển rộng rãi ở xã hội tư bản vào thế kỷ XVII. Vào thời điểm đó, quyền cơ bản của con người được bảo vệ, đặc biệt quan trọng là quyền tự do kinh doanh và tự do lập hội. Loại hình công ty này được pháp luật chính thức công nhận năm 1867 ở Pháp, năm 1870 ở Đức.
Đây là loại hình công ty có trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tới phần vốn góp của mình. Loại công ty này được xem là công ty đối vốn, theo đó vốn có giá trị trước hết, không kể đến nhân thân người góp vốn. Và vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần. Công ty được phát hành chứng khoán động sản.
Hình thức công ty này không nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các thành viên mà chỉ nhấn mạnh tới vốn, tính chất trách nhiệm hữu hạn, và khả năng huy động vốn. Do đó, có thể nói, công ty cổ phần ra đời với tiền đề kinh tế là tập trung vốn và phân tán rủi ro của các nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường; cùng với tiền đề pháp lý là quyền tự do khế ước và quyền tự do lập hội được pháp luật thừa nhận [1, tr. Ở các nước khác nhau, Công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha) [35, tr.
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện loại hình công ty cổ phần. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. Công ty cổ phần là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, nhu nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt” [7, tr.
Về mặt lịch sử hình thành, Công ty cổ phần ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức công ty đối vốn điển hình trên thế giới. Công ty cổ phần được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần. Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần [47].
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, Công ty cổ phần bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm… các nước Tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới. Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế – xã hội. Sự ra đời của công ty cổ phần đã giúp cho các nhà đầu tư giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo [7, tr. Công ty cổ phần là thuật ngữ pháp lý đã tồn tại nhiều năm trên thế giới, được hiểu như là một sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành một mục tiêu chung nào đó.
Tuy nhiên, thuật ngữ này mới xuất hiện ở Việt Nam kể từ khi chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường. Ở Việt Nam, Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn. Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (công ty cổ phần) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản). Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về công ty cổ phần còn rất sơ khai [8, tr.
Từ năm 1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận. Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh. Các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể) và công tư hợp danh (hình thành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp XHCN). Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 115/CP của Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập đến hình thức công ty cổ phần khi quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô danh” (một tên gọi khác của công ty cổ phần) nhưng lại không có văn bản pháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức công ty cổ phần này.
Và trên thực tế, cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức “công ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu tư của nước ngoài năm 1977 kể trên [47]. Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức công ty cổ phần mới chính thức được quy định cụ thể. Sau khi Luật Công ty 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức công ty [47]. Hoạt động của các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật Công ty, mặt khác, do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành.
Sau gần 10 năm thực hiện, Luật Công ty đã phát huy được tích cực vai trò của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ kinh doanh ở nước ta trong thời kỳ này liên tục biến đổi, Luật công ty đã bộc lộ rất nhiều bất cập, nhất là trong vấn đề thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh. Nhiều quy định của luật này tỏ ra lạc hậu với cách thức tổ chức một công ty theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Việc sửa đổi, thay thế luật này được đặt ra như là một sự tất yếu khách quan.