phần mở đầu và 3 chƣơng: Chƣơng 1 Khái quát chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần Chƣơng 2 Thực trạng pháp luật Việt nam về vốn của công ty cổ phần Chƣơng 3 Định hƣớng hoàn thiện chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần Cuối cùng là phần Kết luận Tác giả mong nhận đƣợc những nhận xét cũng nhƣ những đóng góp quý báu để việc nghiên cứu đƣợc hoàn thiện hơn. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 CÁC THUỘC TÍNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở các nƣớc khác nhau, CTCP có tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous company) , ở Anh là công ty TNHH (company LTD) ở Mỹ nó đƣợc gọi là công ty kinh doanh (Commercial corporation) và ở Nhật Bản là công ty chung cổ phần (Kabushiki kasha). Dù tên gọi và quy định trong pháp luật ở các nƣớc có khác nhau nhƣng về bản chất công ty cổ phần có ba thuộc tính cơ bản sau: Thứ nhất : Độc lập Thứ hai : Trách nhiệm hữu hạn Thứ ba : Tự do chuyển nhƣợng cổ phần a) Độc lập CTCP thuộc quyền sở hữu của các cổ đông , chịu sự chi phối định đoạt của các cổ đông nhƣng sự chi phối định đoạt này đƣợc quy định chặt chẽ rõ ràng bởi luật pháp tạo nên yếu tố độc lập cho CTCP.
CTCP đƣợc coi là một thực thể do pháp luật khai sinh ra dựa trên ý tƣởng và hành động của các nhà sáng lập ra nó, tính độc lập của công ty cổ phần thể hiện : - Công ty độc lập với cổ đông : không phụ thuộc vào sự thay đổi các cổ đông của công ty. - Là một pháp nhân khác với các thể nhân sáng lập ra nó , có thể tồn tại lâu dài , nhân danh mình khi thiết lập các mối quan hệ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ý nghĩa : Tính độc lập giúp chúng ta phân biệt CTCP với các loại hình hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân là những loại hình gắn liền với ngƣời lập ra nó b) Trách nhiệm hữu hạn Yếu tố thứ hai đƣợc coi là thuộc tính cơ bản của CTCP là tính TNHH, về bản chất đây cũng là một yếu tố tạo nên tính độc lập của CTCP , theo đó: Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần đã mua và không phải chịu thêm trách nhiệm nào khác nữa. Công ty không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ giao dịch cá nhân nào của cổ đông TNHH đƣợc xem xét ở đây là khía cạnh trách nhiệm trả nợ , các cổ đông của CTCP chỉ có trách nhiệm hữu hạn đối với nghĩa vụ trả nợ của công ty tức là họ chỉ có trách nhiệm giới hạn trong số tài sản đã dùng để mua hoặc cam kết mua cổ phần của công ty , số tài sản khác còn lại của họ không hề liên quan đến công ty cũng nhƣ các nghĩa vụ của công ty. TNHH gắn liền với các cổ đông, còn công ty cổ phần vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty.
Ý nghĩa : yếu tố này của CTCP nhằm mục đích khuyến khích các chủ thể mạnh dạn bỏ vốn vào đầu tƣ kinh doanh. c) Tự do chuyển nhƣợng cổ phần Đây là yếu tố cơ bản không thể thiếu của CTCP quyết định công ty đó có phải là loại hình CTCP hay là loại hình công ty khác. Chỉ có công ty cổ phần mới có đƣợc yếu tố này. Nếu một loại hình công ty nào đó mà trong luật 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp lại hàm chứa các yếu tố hạn chế, ngăn chặn sự chuyển nhƣợng cổ phần thì chƣa thể coi đó là loại hình CTCP.
Ví dụ : quy định về hạn chế chuyển nhƣợng phần vốn góp trong công ty TNHH Nội dung của tự do chuyển nhƣợng cổ phần của công ty cổ phần gồm: - Đƣợc phép phát hành cổ phiếu - Cổ đông đƣợc tự do chuyển nhƣợng cổ phần - Quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần là quyền đặc trƣng của các cổ đông trong công ty cổ phần. Trừ những trƣờng hợp hạn chế và bắt buộc nhất định đƣợc quy định cu thể trong luật pháp và điều lệ. Ngoài ra theo một số nhà nghiên cứu thì CTCP còn có sự phân tánh rõ ràng giữa sở hữu và điều hành , đây cũng là một yếu tố xuất phát từ tính độc lập của CTCP và làm cho tính độc lập của nó trở nên mạnh mẽ hơn hết so với các mô hình kinh doanh khác. CTCP bao giờ cũng có ba thuộc tính cơ bản trên.
Nếu thiếu đi bất cứ thuộc tính nào trong ba thuộc tính trên thì không thể coi đó là loại hình CTCP. Tuỳ theo điều kiện , hoàn cảnh , kinh tế, văn hoá xã hội riêng biệt ở các nƣớc khác nhau mà luật pháp các nƣớc có quy định khác nhau về tên gọi cũng nhƣ đặc điểm pháp lý đối với CTCP.2 ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA CTCP Về mặt pháp lý , khái niệm về công ty cổ phần chỉ thực sự xuất hiện ở nƣớc ta khi luật công ty 90 đƣợc chính thức hình thành, theo đó CTCP và CT TNHH đƣợc định nghĩa chung là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn , cùng chia nhau lợi nhuận ,cùng chịu lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình đã góp vào công ty 1 Luật DN 90 đã gộp các đặc điểm chung của CTCP , công ty TNHH để đƣa ra khái niệm pháp lý về công ty (gồm công ty TNHH , công ty CP) các đặc điểm chung đƣợc đúc rút đó là - Nhiều thành viên - Cùng góp vốn cùng chia lợi nhuận - Cùng chịu lỗ - Chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp Định nghĩa về CTCP trong đó các thành viên cùng chia lợi nhuận , cùng chịu lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp là không thực sự chuẩn xác bởi vì trong CTCP có thể có hai loại cổ đông là cổ đông phổ thông ( sở hữu cổ phần phổ thông) và cổ đông ƣu đãi (sở hữu cổ phần ƣu đãi) và việc cổ đông phổ thông cùng với cổ đông ƣu đãi cùng chia nhau lợi nhuận hoặc cùng chia lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp là không đúng với thực tế cũng nhƣ theo quy định pháp luật bởi vì cổ đông ƣu đãi có thể đƣợc hƣởng chia lợi nhuận khác với cổ đông phổ thông (không tƣơng ứng với phần vốn góp giữa hai loại cổ đông này) Cũng nhƣ vậy nếu khi công ty làm ăn thua lỗ thì có thể cổ đông phổ thông phải chịu khoản lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp của mình nhƣng cổ đông ƣu đãi không phải chịu khoản lỗ mà có thể vẫn đƣợc nhận lại phần vốn góp của mình. Ví dụ: Công ty A có VĐL là 100 triệu trong đó giá trị của cổ phần phổ thông là 80 triệu , cổ phần ƣu đãi là 20 triệu Công ty làm ăn thua lỗ và tổng số vốn điều lệ còn 30 triệu .Đại hội đồng cổ đông quyết định giải thể công ty khi đó cổ đông ƣu đãi sẽ đƣợc nhận lại toàn 1 Điều 2 - Luật công ty 1990 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ số vốn góp của mình là 20 triệu , các cổ đông phổ thông phải chịu lỗ tƣơng ứng phần vốn góp và chỉ chia nhau 10 triệu còn lại. Đấy là tính ƣu thế đƣợc thanh toán trƣớc của cổ đông ƣu đãi so với cổ đông phổ thông trƣờng hợp công ty giải thể hoặc phá sản.
Việc cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tƣơng ứng với phần vốn góp trong công ty cổ phần chỉ đúng với các cổ đông sở hữu cổ phần cùng loại. Chính vì bất cập đó nên LDN 1999 và LDN 2005 không đƣa ra một định nghĩa chung về công ty TNHH và CTCP Dựa trên các thuộc tính cơ bản của CTCP ngƣời ta luật hoá tạo nên các đặc điểm pháp lý của CTCP theo đó khi lựa chọn mô hình công ty cổ phần để đầu tƣ kinh doanh thì theo pháp luật nó phải có những đặc trƣng pháp lý riêng đó. Theo đó CTCP là doanh nghiệp trong đó : 1. Vốn điều lệ được chia trên nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần 2.
Cổ đông có thể là tổ chức , cá nhân ; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa 3. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp trong phạm vi số cổ phần đã góp vào doanh nghiệp 4. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác , trừ trường hợp quy định tại K3-Đ81 và K5 - Đ84 của luật này(2) Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều nhần bằng nhau gọi là cổ phần Đây đã mang tính đặc trƣng pháp lý của CTCP chỉ có dạng loại hình CTCP thì vốn điều lệ mới đƣợc phân thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Trong các loại hình công ty khác vốn điều lệ không chia thành các phần bằng nhau mà đƣợc xác định theo mức đóng góp của các thành viên và ngƣời 2 Điều 77 – LDN 2005 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta chỉ quan tâm đến tổng phần vốn góp và tỉ lệ phần vốn góp của mỗi thành viên.
Số lƣợng cổ đông Luật Việt Nam quy định đối với công ty cổ phần thì số cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Đặc trƣng pháp lý này giúp phân biệt loại hình công ty cổ phần với loại hình công ty TNHH (CT TNHH giới hạn số lƣợng thành viên tối đa là 50), CTCP là mô hình công ty hoàn thiện nhất trong mục đích thu hút vốn để đầu tƣ vào các dự án lớn từ trƣớc đến nay vì vậy có những công ty có quy mô rất lớn với cổ đông trên toàn thế giới , không có giới hạn cuối cùng về số lƣợng cổ đông của công ty cổ phần. Về số lƣợng tối thiểu , luật Việt Nam quy định là ba nhƣng luật pháp các nƣớc có quy định khác nhau về số lƣợng cổ đông tối thiểu đối với loại hình CTCP .