phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về giám sát tài chính doanh nghiệp và giám sát tài chính trong công ty cổ phần niêm yết theo pháp luật Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giám sát tài chính trong công ty cổ phần niêm yết ở Việt Nam. Chƣơng 3: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị về công tác giám sát tài chính trong công ty cổ phần niêm yết ở Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁM SÁT TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ GIÁM SÁT TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái quát chung về giám sát tài chính doanh nghiệp 1.
Khái niệm giám sát tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về giám sát trong n i b doanh nghiệp Trong kinh doanh, giám sát nội bộ là nhu cầu tất yếu của mọi doanh nghiệp. Thuật ngữ giám sát nội bộ đƣợc hiểu là hoạt động giám sát của chủ sở hữu, giám sát của chủ nợ trong việc sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty, là ngƣời đầu tƣ vào công ty nhằm mục đích lợi nhuận.
Do đó bản chất của hoạt động giám sát của chủ sở hữu là việc thực hiện quyền sở hữu của ngƣời góp vốn trong phạm vi tài sản đƣợc chuyển giao cho doanh nghiệp sử dụng và định đoạt nhằm mục đích lợi nhuận. Cùng với quá trình phát triển của thị trƣờng, quy mô vốn tăng lên, quy trình quản lý phức tạp hơn, sở hữu buộc phải tách rời quản lý. Không phải tất cả ngƣời góp vốn đều có thể tham gia quản lý, điều hành để trực tiếp sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp tạo nên sự phân tách giữa sở hữu và quản lý, sở hữu và điều hành. Theo đó, tổ chức và cá nhân góp vốn sẽ thực hiện quyền giám sát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tổ chức đƣợc ủy quyền thực hiện.
Điều này tạo nên cơ chế giám sát nội bộ nhằm mục đích đảm bảo tính hợp lý, hợp pháp trong các quyết định tạo lập, sử dụng vốn và tài sản của cơ quan và ngƣời có thẩm quyền trong quản lý, điều hành, hoạt động doanh nghiệp, bảo vệ tài sản công ty, lợi ích của chủ sở hữu và chủ nợ. Cơ quan chủ sở hữu thực hiện quyền giám sát của mình trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hội đồng quản trị. Hoạt động giám sát tài chính đƣợc tiến hành thƣờng xuyên nhằm kiểm tra, xem xét quyết định của ngƣời điều hành, quản lý trong quá trình hoạt động của công ty. Chủ sở hữu có thể thông qua cơ quan kiểm soát giám sát các vấn đề tài chính doanh nghiệp mang tính chuyên môn trong quá trình sử dụng vốn, quản lý chi phí, doanh thu, lợi nhuận… Đồng thời, giám sát nội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ việc tuân thủ pháp luật, điều lệ công ty, thực hiện nghị quyết, quyết định của cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành.
Thông qua đó kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm, kiến nghị xử lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm. Nhƣ vậy, giám sát nội bộ doanh nghiệp chính là hoạt động của chủ sở hữu và các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ doanh nghiệp nhằm kiểm tra, xem xét tính hợp lý, hợp pháp của hoạt động quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp và việc tuân thủ pháp luật, điều lệ, nghị quyết, quyết định và quy chế do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Giám sát tài chính doanh nghiệp Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp, dƣới góc độ kinh tế, đƣợc các chuyên gia kinh tế hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Đại học Kinh tế quốc dân đó là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế, bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nƣớc; quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trƣờng tài chính; quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trƣờng khác và quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp[1, xem tr.
Còn theo Giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Đại học Kinh doanh và công nghệ Hà Nội các quan hệ này chỉ bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nƣớc; quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế - xã hội và quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp[2, xem tr. Nhìn chung, xét về hình thức, các quan hệ này đều là các quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn vốn và tài sản nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mục đích của chủ sở hữu và các chủ thể có liên quan. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò huy động vốn, đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả, đóng vai trò là công cụ quan trọng để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động trên đều hƣớng tới kết quả là lợi nhuận phát sinh thông qua các giao dịch, tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản trị tài chính doanh nghiệp Để đạt đƣợc các mục tiêu kinh doanh, ngƣời quản lý điều hành phải thực hiện quản lý tài chính bao gồm các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn đồng thời quản lý có hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo đó, chủ sở hữu sẽ là chủ thể thực hiện quá trình quản trị tài chính doanh nghiệp. Chủ sở hữu sẽ phải lựa chọn và đƣa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định thông qua quá trình quản lý công ty đó nhằm đạt đƣợc mục tiêu trong hoạt động của doanh nghiệp. Có thể thấy, quản trị tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp, quản trị tài chính là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp, quá trình quyết định tài chính dựa trên những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp và do cơ quan quản trị nội bộ quyết định theo thẩm quyền đƣợc quy định trong Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Giám sát tài chính doanh nghiệp Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Giám sát tài chính đƣợc hiểu là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá các vấn đề về tài chính chấp hành chính sách pháp luật về tài chính của doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 4, Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ). Dƣới góc độ tiếp cận vĩ mô thì dựa trên những yêu cầu của sự minh bạch, và đặc điểm của hoạt động giám sát là một chủ thể thứ ba có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan thực hiện việc theo dõi, đánh giá và can thiệp để đảm bảo hoạt động nào đó có thể hiểu giám sát tài chính cụ thể là các phƣơng thức đánh giá và hoạt động giám sát đối với các định chế tài chính, thị trƣờng tài chính, công cụ tài chính và hạ tầng cơ sở tài chính đƣợc thực hiện từ bên trong bởi các tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và từ bên ngoài bởi các cơ quan quản lý nhà nƣớc thẩm quyền. Nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định quản lý hiện hành đối với khu vực tài chính, với mục đích cuối cùng là để duy trì tính ổn định của thị trƣờng tài chính nói chung và hoạt động tài chính của các thể chế kinh doanh nói riêng. Mục tiêu cuối cùng của quá trình giám sát này nhằm đảm bảo sự ổn định, vận hành thông suốt của hệ thống tài chính và nền kinh tế; đảm bảo sự lành mạnh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và an toàn của các thể chế tài chính; đảm bảo đạo đức kinh doanh thị trƣờng, tính liêm chính của thị trƣờng và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và cả ngƣời tiêu dùng[3, xem tr.
Dƣới góc độ tiếp cận vi mô mà cụ thể là trong doanh nghiệp, hoạt động giám sát tài chính phụ thuộc vào mục đích, chủ thể và đối tƣợng giám sát tài chính doanh nghiệp mà sử dụng các hình thức và phƣơng pháp giám sát khác nhau, nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất mà chủ thể quản lý đặt ra. Giám sát tài chính doanh nghiệp là yếu tố tất yếu và quan trọng, luôn song hành với tất cả các hoạt động trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Trƣớc tiên, hoạt động tài chính doanh nghiệp chính xác là đối tƣợng giám sát của các cơ quan nội bộ doanh nghiệp. Với tƣ cách là chủ thể hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tự mình thực hiện hoạt động giám sát, nhằm thực hiện có hiệu quả các quyết định tài chính, kinh doanh của mình.
Quyền giám sát sử dụng vốn cũng đƣợc thực hiện bởi chủ nợ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng hoặc cam kết sử dụng vốn trong phƣơng án phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Hoạt động giám sát tài chính đƣợc tiến hành bởi cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý hoặc các cơ quan chuyên trách là ban kiểm soát. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể thuê các tổ chức bên ngoài nhƣ công ty kiểm toán hoặc kiểm toán viên thực hiện kiểm tra, xem xét các vấn đề tài chính theo yêu cầu của chủ thể giám sát. Đối tƣợng của hoạt động kiểm soát chính là các thông tin trong báo cáo tài chính về tình trạng sử dụng vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, lợi nhuận.
Các dữ liệu này liên quan trực tiếp đến quyết định vay, mua bán tài sản của cơ quan quản lý, ngƣời điều hành. Cụ thể hơn, hoạt động tự giám sát tài chính dựa trên cơ sở thông tin liên quan đến các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động này gắn liền với với việc thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của ban kiểm soát, và đƣợc thực hiện thông qua hoạt động kiểm toán nội bộ. Việc công khai hóa các hoạt động tài chính để ngƣời lao động, chủ sở hữu doanh nghiệp nắm bắt đƣợc thông tin và kiểm tra, đồng thời chủ nợ có thể thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn nhằm bảo đảm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng thu hồi nợ.