Đặt vấn đề Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và tất cả sinh vật trên trái đất, ở đâu có nước là ở đó có sự sống. Nước tham gia vào tất cả các hoạt động sống cũng như hoạt động sản xuất của con người. Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt.
Nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu mang lại lợi nhuận cao, con người đã cố tình bỏ qua các tác động đến môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và nước sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước. Ngày nay, dân số ngày càng tăng nhanh, xã hội phát triển thì nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều, diện tích đất ở cũng giảm theo đầu người, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và bị tận dụng quá mức cho hoạt động sản xuất nên cũng đang dần trở nên thoái hóa, bạc màu.
Do trình độ nhận thức và hiểu biết của người dân vùng nông thôn còn hạn chế nên một loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường tại nông thôn đang ngày càng tăng. Lưu vực sông An Châu thuộc huyện Sơn Động, đại diện là đoạn chảy qua Thị Trấn An Châu có ý nghĩa quan trọng đối với người dân địa bàn Thị Trấn: cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cho nông nghiệp…. Thị Trấn An Châu trước kia nền kinh tế phát triển chủ yếu là ngành nông nghiệp thuần túy. Nhưng hiện nay cùng với quá trình phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nên chất n 2 lượng cuộc sống của nhân dân huyện Sơn Động đang được cải thiện.
Số lượng các nhà máy, xí nghiệp đang ngày một tăng kéo theo hàng loạt các vấn đề, các áp lực về ô nhiêm môi trường. Hệ thống thoát nước, nước thải và rác thải từ các cơ sở sản xuất, các nhà máy và nước thải sinh hoạt không qua xử lý chính là nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm đất, nước, không khí,. Hơn thế nữa các nguồn thải này còn là nguyên nhân gây nên các căn bệnh truyền nhiễm trên diện rộng đối với cộng đồng cư dân sống ở gần đó. Nguồn gây ô nhiêm này có khả năng gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân, ô nhiễm môi trường và làm suy giảm chức năng hệ sinh thái của khu vực đó… Một vấn đề đang được quan tâm dó là ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu.
Chính vì tình hình này nên việc tìm hiểu về hiện trạng môi trường nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua Thị Trấn An Châu cũng như ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông An Châu đến môi trường sống, đến sức khỏe cộng đồng sống trong địa bàn Thị Trấn An Châu – Huyện Sơn Động là một vấn đề cần thiết. Chính vì vậy, để tìm hiểu và góp phần cải thiện môi trường nước lưu vực sông An Châu, đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu. Được sự cho phép của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và Phòng Tài Nguyên Môi Trường Huyện Sơn Động em tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu- Huyện Sơn Động- Tỉnh Băc Giang”.2 Mục đích nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng môi trường nước lưu vực sông An Châu, đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu. - Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước của lưu vực sông đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong đại bàn Thị Trấn.
- Đưa ra và đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm giảm thiêu ô nhiễm môi trường nước trong địa bàn Thị Trấn.3 Mục tiêu nghiên cứu n 3 - Thông qua việc tìm hiểu thực tế, điều tra khảo sát và tham khảo những kết quả nghiên cứu trước đây về lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu, qua đó đưa ra các kết quả chính xác về tình hình và những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng nước và dự báo ô nhiễm lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận Thị Trấn An Châu do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân của các xí nghiệp gây nên. - Chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn của công tác quản lý môi trường nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua đị phận Thị Trấn An Châu – Huyện Sơn Động – Tỉnh bắc Giang.4 Ý nghĩa của đề tài - Giúp sinh viên nâng cao hiểu biết và kiến thức về môi trường nước của địa phận huyện mình. - Giúp sinh viên có kỹ năng thực tế đồng thời cũng góp phần cho công việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp. - Là cơ sở để các cán bộ môi trường địa phương đưa ra biện pháp sử dụng nguồn tài nguyên nước sông phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất cho hợp lý.
- Thông qua việc khảo sát, đánh giá các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước sông từ đó đưa ra biện pháp phù hợp để quản lý nguồn nước lưu vục sông. n 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các cơ sở nghiên cứu của đề tài 2.1 Cơ sở triết học Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn với tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Sự thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong các chu trình sinh địa hóa của 5 thành phần cơ bản: - Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp. - Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn tạo ra các chất thải.
- Sinh vật phân hủy (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân hủy các chất thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản. - Con người và xã hội loài người. - Các chất hữu cơ và vô cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người với số lượng này càng tăng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống.
Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó nên phải đưa ra các phương án thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp một phần không nhỏ vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên – con người – xã hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như: quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên - Con người – Xã hội”.2 Cơ sở khoa học – công nghệ Bảo vệ môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng của toàn cầu, không chỉ là sự quan tâm của các nhà khoa học mà còn là của tất cả người dân. Nguồn nước bị ô nhiễm là vector lan truyền ô nhiễm và là một trong các nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật cho con người.
Cuộc sống con người trở nên khó khăn khi môi trường nước bị suy giảm về số lượng và chất lượng. Đánh giá hiện trạng môi trường nước cung cấp bức tranh tổng thể về 2 phương diện: Phương diện vật lý, hóa học thể hiện chất lượng môi trường và phương diện kinh tế xã hội, đó chính là những thông báo về tác động từ các tác động của con người tới chất lượng môi trường cũng như tới sức khỏe con người, kinh tế và phúc lợi xã hội. Bản đánh giá hiện trạng môi trường có vai trò như một bản “thông điệp” về tình trạng môi trường tài nguyên thiên nhiên và con người, thông qua việc cung cấp thông tin tin cậy về môi trường để hỗ trợ quá trình ta quyết định bảo vệ phát triển bền vững. một trong những mục tiêu quan trọng của việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường và cung cấp thông tin nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về tình hình môi trường, khuyến khích và thúc đẩy việc xây dựng triển khai và nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường, nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa công tác về môi trường.
Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiệu đặc trưng sau: - Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn +Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ,.) +Thay đổi thành phần hóa học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại) +Lượng oxy hòa tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hóa để oxy hóa các chất bẩn hữu cơ vừa mời thải vào. n 6 +Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng, có xuất hiện các vi trùng gây bệnh Các dạng ô nhiễm nước mặt (nước sông) thường gặp là: - Ô nhiễm chất hữu cơ: đó là sự có mặt của các chất tiêu thụ trong nước. Các chỉ tiêu để đánh giá ô nhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD. - Ô nhiễm các chất vô cơ: các loại phân bón vô cơ, các khoáng axit, cặn, các nguyên tố vết.
- Ô nhiễm vi sinh vật: thường gặp ở các thủy vực nhận nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải bệnh viện. Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh sẽ theo nguồn nước lan truyền bệnh cho người và động vật. - Ô nhiễm bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học: trong quá trình sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học bị đẩy ra sông chúng sẽ lan truyền trong môi trường nước đi vào cơ thể con người theo chuỗi thức ăn và các sản phẩm nông nghiệp.