CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, việc tự học qua mạng, qua hệ thống E-learning và các E-book đang được phổ biến rộng rãi. Người học có thể học bất cứ lúc nào, bất kì ở đâu, với bất kì ai, học những vấn đề mà bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc …qua đó mỗi cá nhân có thể tự giàu thêm nguồn tri thức cho chính mình. Trên mạng Internet đã xuất hiện rất nhiều website viết về học tập như hocmai.Cũng có không ít các website về Hoá Học trong đó có cung cấp một số các tư liệu điện tử để giúp cho GV và HS phổ thông có thể tham khảo để dạy và học nhưng đối với GV và HS phổ thông sẽ chưa thực sự thuận lợi khi tìm kiếm kiến thức bộ môn bởi lẽ đa số các trang web trên đều sử dụng ngôn ngữ nước ngoài.
Hiện nay đã có khá nhiều đề tài về thiết kế trang web, e-book ,thư viện tư liệu điện tử từ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên đến các luận văn thạc sỹ của học viên cao học như : 1. Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế website phục vụ việc học tập và ôn tập chương nguyên tử cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver. Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn Hóa học lớp 11 nhóm nitơ chương trình phân ban thí điểm.
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. Nguyễn Thị Thu Hà (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao chương “ Nhóm halogen”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Trần Huy Khoa Lớp cao học Hóa K19 7 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 4. Trần Tuyết Nhung (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “ Dung dịch – Sự điện li” lớp 10 chuyên hóa học, luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp 10 hỗ trợ hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. Ngô Thị Phương Bích (2008),Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương nhóm oxy lớp 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP. Nguyễn Thị Minh Thanh (2008), Thiết kế Blog hóa học, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.
Lê Thị Thu Hà (2009), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học môn Hóa học ở trường THPT, luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Thanh Hoa (2009), Thiết kế E-book hóa học hỗ trợ giáo dục môi trường ở trường THPT, luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Đàm Thị Thanh Hưng (2009), Thiết kế E-book dạy học môn Hóa học lớp 12 chương 6 chương trình nâng cao, luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Thu (2010), Xây dựng và hướng dẫn khai thác, sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học 10 nâng cao, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Hóa Học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
Hoàng Anh Tuấn (2010) Xây dựng và hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử môn hóa học lớp 12 nâng cao THPT, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực”. Trên đây chúng tôi mới chỉ liệt kê tên đề tài của một số khoá luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề có lien quan đến ứng dụng CNTT trong dạy và học hoá học , còn khá nhiều các khoá luận tốt nghiệp luận văn thạc sĩ khác nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên các khoá luận, luận văn đều có đặc điểm Trần Huy Khoa Lớp cao học Hóa K19 8 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội chung là góp phần nâng cao hiệu quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của học sinh. Cung cấp tư liệu cho GV và học sinh tham khảo để dạy học và tự học.
Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu còn một số tồn tại sau: - Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được. - Các E-book chưa chú ý tới phần củng cố, kiểm tra và đánh giá sau mỗi bài học. - Các tư liệu điện tử còn chưa được đa dạng phong phú, chủ yếu dưới dạng tư liệu chưa có sự hướng dẫn sử dụng trong dạy học như thế nào cho có hiệu quả 1. Đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, coi học sinh là trung tâm của quá trình dạy học.
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh được coi là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học. Nguyên tắc này đã được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt Nam. Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và được coi là phương hướng dạy học tích cực. Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay như : Dạy học hướng vào người học; Dạy học theo hướng “Hoạt động hoá người học” ; Dạy học tích cực về bản chất đều là tăng cường sự học tập tích cực , tự giác và sáng tạo của học sinh.
Khái niệm phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy học tích cực là thuật ngữ nói tới những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Vì vậy phương pháp dạy học tích cực thực chất là các phương pháp dạy học hướng tới việc giúp học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động. Trần Huy Khoa Lớp cao học Hóa K19 9 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 1.
Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy và học tích cực phát triển ở học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, do đó nó đề cao vai trò của học sinh: học bằng hoạt động, thông qua hoạt động của chính bản thân mình mà học sinh chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và phẩm chất đạo đức, còn giáo viên chủ yếu giữ vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện thành công các hoạt động học tập. Có thể nêu ra các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy và học tích cực là: -Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết. Khi giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, họ được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, được làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của người học.
Qua đó, người học không những chiếm lĩnh các kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ được cách thức xây dựng kiến thức, do đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội được rèn luyện. Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục. Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực mà họ có thể sử dụng trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, ở hiện tại cũng như trong tương lai. Khi giáo dục/dạy học bám sát các vấn đề của thực tiễn, góp phần giải quyết thực tiễn thì rõ ràng là thay vì nhồi nhét cho học sinh các thông tin, giáo dục/dạy học là quá trình giúp học sinh nhận thức, thông hiểu và vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế.
Chính sự định hướng này sẽ làm học sinh hiểu mình sẽ phải học những gì và vì sao phải học chúng. Khi đó, các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức sẽ lôi kéo được sự tham gia tích cực và tự giác của học sinh. Theo cách này thì giáo viên là người thiết kế, tổ chức và định hướng các hoạt động. Giáo viên phải tạo ra được môi trường học tập thân thiện để khuyến khích học sinh hoạt động và tích cực tham gia vào các hoạt động.
Trần Huy Khoa Lớp cao học Hóa K19 10 Luận văn tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội -Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự học từ đó mà tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi học sinh để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển, xã hội tri thức. Theo dấu hiệu này của dạy và học tích cực, học sinh hoàn toàn có thể chủ động lựa chọn vấn đề mà họ ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả. Đây thuộc đặc trưng lấy học sinh làm trung tâm theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này. Việc nghiên cứu có thể tiến hành hoàn toàn theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ.
Các đề tài nghiên cứu và nội dung học có thể do học sinh tự đề xuất hoặc do họ lựa chọn trong số các đề tài hoặc nội dung do giáo viên giới thiệu. Các đề tài, nội dung học cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như của thực tiễn và xã hội. Chính điều này làm cho kiến thức có tính ứng dụng và người học hiểu được rằng họ học các kiến thức đó để làm gì, kiến thức đó có thể giải quyết vấn đề gì trong thực tiễn, trong xã hội. Mục tiêu chính của đặc trưng này là phát huy cao độ tính tích cực, tự lực của học sinh, rèn luyện cho học sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả.