MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, trong thời gian qua có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có những bước đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội.
Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Cho đến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý. Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này.Đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây, vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâm chú ý, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ- CP của Chính phủ ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời thì kinh tế trang trại mới thực sự được một sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường. Sự tăng nhanh về số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta,giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam, nhưng tỉnh Băc Giang là nơi có nhiều điều kiện ưu đãi về điều kiện c 2 tự nhiên, điều kiện khí hậu…đặc biệt là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tương đối cao. Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến trong nông nghiệp, có hiệu quả cao và được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên Thế giới, cũng như ở Việt Nam. Để đáp ứng mục đích này, chủ trang trại cần phải sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó cơ bản nhất là: đất đai, vốn đầu tư, lao động, thông tin thị trường…Kinh tế trang trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa về nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người. Ở Việt Nam, tuy KTTT được hình thành chưa lâu, số lượng còn ít nhưng đã thể hiện tính hơn hẳn so với kinh tế hộ nông dân - nhất là mức độ tích tụ các nguồn lực, trình độ sản xuất hàng hóa, nhiều giải pháp về quản trị quá trình kinh doanh,.
Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách để khuyến khích phát triển kinh tế trang trại. Nhưng KTTT ở Việt Nam phát triển còn chậm, năng xuất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh chưa cao, đặc biệt là kinh tế trang trại tổng hợp (KTTTH) còn yếu và ít. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những giải pháp để phát triển KTTTTH ở nước ta là yêu cầu cấp bách. Xã Tam Tiến Huyện Yên Thế của tỉnh Bắc Giang trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng miền núi này và mô hình kinh tế trang trại là phù hợp hơn cả.
Để thấy rõ những ưu việt của kinh tế trang trại cũng như những mặt hạn chế cần khắc phục tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hệ thống tổ chức sản xuất tại trang trại tổng hợp -Xã Tam Tiến- Huyện Yên Thế- Tỉnh Bắc Giang” c 3 1.1 Về chuyên môn - Đánh giá được thực trạng công tác tổ chức quản lý tại trang trại tổng hợp Phan Thị Hạnh xã Tam Tiến huyện Yên Thế tỉnh Bắc giang - Phân tích được hệ thống sản xuất , tìm ra được những khó khăn, trở ngại và những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại tổng hợp. - Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý trang trại, góp phần phát triển trang trại tổng hợp 1. Về thái độ và ý thức trách nhiệm - Thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định của trang trại trong thời gian thực tập về thời gian, trang phục, giao tiếp. - Tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và các hoạt động xã hội do trang trại cũng như UBND xã Tam Tiến tổ chức.
- Hoàn thành tốt các công việc được giao tại trang trại. Nội dung và phương pháp thực hiện 1. Nội dung thực tập - Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tại xã Tam Tiến. - Tìm hiểu quá trình hình thành hệ thống tổ chức sản xuất tại trang trại - Tham gia vào quá trình chăm sóc, chăn nuôi tại trang trại - Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức sản xuất.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại - Khảo sát tình hình sản xuất tại trang trại - Xây dựng được giải pháp để tăng hiệu quả quản lý tổ chức kinh tế tại trang trại. Phương pháp thực hiện * Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp c 4 Số liệu thứ cấp là những số liệu đã qua xử lý, từ sách, báo, trang web và những báo cáo đã nghiên cứu trước đây có liên quan đến rủi ro trong chăn nuôi gà ở trang trại. Bên cạnh đó thu thập thông tin chung, cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương thông qua tài liệu của phòng thống kê các phòng ban, các báo cáo sản xuất, các niêm giám thống kê của địa phương. * Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ trang trại ,để thu thập số liệu sơ cấp, tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: - Sử dụng Phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại bằng bộ câu hỏi đã soạn sẵn : Điều tra chúng tôi có đủ thông tin về trang trại như nguyên nhân tạo lập trang trại, kết quả sản xuất.
Điều tra được xây dựng cho từng trang trại và đã được chuẩn bị từ trước. Những thông tin về tình hình cơ bản của trang trại như: họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, loại hình trang trại, số khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất. Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị. Các yếu tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường, cách thức tổ chức sản xuất, cách thức quản lý - Sử dụng Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc chủ trang trại và những người lao động làm thuê tại trang trại: Những thông tin về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của chủ trang trại.
các chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế trang trại, sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, của nhân dân với vấn đề kinh tế trang trại. - Phương pháp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất: - Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: dọn dẹp, vệ sinh chuồng nuôi, chăm sóc vật nuôi, kiểm cám, kiểm thuốc từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong quá trình phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. c 5 Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị. Những thông tin về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của chủ trang trại.
Các yếu tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường, các chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế trang trại, sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, của nhân dân với vấn đề kinh tế trang trại. - Phương pháp quan sát Tiến hành trực tiếp khi vào điều tra trang trại, nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu để đánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp. - Phương pháp thảo luận: Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại trong những năm tới. * Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là + Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm.
Được tính bằng sản lượng của từng loại sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm được xác định chi tiết theo các chỉ tiêu giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác; GTSX trên 1 ngày công lao động; GTSX trên 1 đồng chi phí. Cách tính: GO = ∑ Pi.Qi Trong đó: GO : giá trị sản xuất Pi : giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i Qi : lượng sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (Intermediate Cost), là toàn bộ các khoản chi phí vật c 6 chất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón chi phí dịch vụ thuê ngoài. Cách tính: IC = ∑ Cij Trong đó: IC : là chi phí trung gian Cij : là chi phí nguyên vật liệu thứ i cho sản phẩm thứ j + Giá trị gia tăng (Value Added): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh.