Chương 1: Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hàm Nghi Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hàm Nghi 1 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Tại chương này, tác giả giới thiệu các khái niệm về KSNB, hệ thống KSNB, KSNB và HTKSNB tại NHTM, vai trò, mục tiêu của KSNB, các bộ phận cấu thành KSNB, phân loại hoạt động kiểm soát nội bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại. Từ đó hình thành cơ sở để tác giả nghiên cứu thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hàm Nghi ở chương kế tiếp. Khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm kiểm soát nội bộ Hoạt động kiểm soát đã tồn tại rất lâu trên thế giới, theo HenriFayol (1949, trang 49)1, kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần điều chỉnh, tìm ra các nguyên nhân để ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn. Theo hướng dẫn về Chuẩn mực KSNB cho đơn vị khu vực công do Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI)2 ban hành thì KSNB là một quá 1 HenriFayol: (29 tháng 7 năm 1841 – 19 tháng 11 năm 1925) là một tác giả, kỹ sư, chủ khai thác, giám đốc mỏ và cũng đồng thời là người đã phát triển học thuyết chung về quản trị kinh doanh hay thường được biết với tên gọi là học thuyết Fayol (Fayolism). Ông và các cộng sự đã xây dựng một học thuyết độc lập với học thuyết quản lý theo khoa học gần như đồng thời. Giống như học giả đương thời, Frederick Winslow Taylor, ông cũng được biết đến rộng rãi như là cha đẻ của phương pháp quản lý hiện đại.
2 INTOSAI là một tổ chức tự chủ, bảo trợ cho cộng đồng các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) trên thế giới, được thành lập năm 1953 tại Cuba. INTOSAI có 7 tổ chức kiểm toán tối cao khu vực, gồm: Khu vực Mỹ La tinh, khu vực châu Phi, khu vực các quốc gia Ả Rập , khu vực châu Á , khu vực Thái Bình Dương, khu vực Caribe , khu vực châu Âu, với 192 thành viên chính thức. INTOSAI cung cấp khung thể chế cho các thành viên nhằm thúc đẩy sự phát triển và chuyển giao kiến thức, nâng cao chất lượng hoạt động KTNN, tăng cường năng lực chuyên môn, vị thế và ảnh hưởng của các cơ quan KTNN thành viên mỗi quốc gia thông qua việc ban hành hệ thống chuẩn mực, hướng dẫn nghề nghiệp (ISSAI) và thông lệ tốt về hoạt động kiểm toán. INTOSAI đã ban hành và đưa vào sử dụng hệ thống tài liệu nền tảng hướng dẫn về địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức của cơ quan KTNN và hoạt động kiểm toán.
2 trình độc lập bị tác động bởi người quản lý và các cá nhân trong tổ chức và được thiết kế để nhận diện rủi ro và cung cấp giải pháp tin cậy nhằm đạt được sứ mạng của tổ chức, những mục tiêu chung cần đạt được là: Vận hành có trật tự, đúng đắn, tính kinh tế, các hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; Thực hiện tốt trách nhiệm giải trình; Tuân theo luật pháp và các quy tắc; Bảo đảm an toàn nguồn lực chống lại mất mát, lãng phí và thiệt hại. Theo COSO Internal Control 2013, cho rằng “KSNB là một quy trình đưa ra bởi Ban quản trị của doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đưa ra sự đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Điểm nổi bật của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ. Trong khái niệm này, tổ chức COSO đã tập trung vào 4 nội dung cụ thể: - KSNB là một quá trình: mỗi một hoạt động của đơn vị đều phải tuân thủ theo quy trình từ khâu lập kế hoạch, thực hiện hoạt động và giám sát các hoạt động đó.
Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra, mọi đơn vị phải kiểm soát được các hoạt động của mình trong tất cả các khâu đồng thời phải các hoạt động này được liên tục diễn ra và được có mặt trong mọi bộ phận. - KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: các chủ thể trong tổ chức như HĐQT, Ban Giám đốc (BGĐ), nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị đều tham gia vào công tác KSNB. KSNB chỉ là công cụ của nhà quản lý. Các chủ thể trong tổ chức sẽ xây dựng các mục tiêu, đưa ra các biện pháp kiểm soát và là người vận hành các biện pháp kiểm soát đó.
Do khả năng, kinh nghiệm, kiến thức của mỗi chủ thể là khác nhau nên việc hiểu rõ, trao đổi, hành động đôi khi không nhất quán với nhau. Vì thế, các thành viên trong một tổ chức phải am hiểu về trách nhiệm và quyền hạn của mình, xác định được các mục tiêu, nhiệm vụ, cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức. - KSNB đảm bảo tính hợp lý cho nhà quản lý, điều này khẳng định KSNB không đảm bảo tuyệt đối việc thực hiện các mục tiêu của nhà quản lý. Bởi KSNB luôn 3 luôn có những hạn chế vốn có như: sai lầm của con người khi quyết định, các cá nhân thông đồng với nhau, nhà quản lý lạm quyền.
Mặt khác, một nhà quản lý luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra để thực hiện kiểm soát với lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. - KSNB đảm bảo các mục tiêu, có 3 mục tiêu KSNB cần hướng tới đó là: mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo tài chính, mục tiêu về sự tuân thủ. Hiện tại, định nghĩa này được chấp nhận khá rộng rãi và vì nó đáp ứng được yêu cầu về minh bạch thông tin của các công ty đặc biệt là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán nên được liên đoàn kế toán quốc tế thừa nhận. Hệ thống kiểm soát nội bộ Theo hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kì (AICPA), thì Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) được định nghĩa là “Hệ thống kế hoạch, tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của các tổ chức, kiểm tra độ chính xác và tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đặt ra”.rens và cộng sự (2000, trang 196) cho rằng “Để đạt được mục tiêu cần phải xây dựng một HTKSNB, theo đó hệ thống bao gồm các chính sách, thủ tục đặc thù được thiết kế để cung cấp cho các nhà quản lý sự đảm bảo hợp lý để thực hiện các mục tiêu đã định.
Mục tiêu đó bao gồm: đảm bảo độ tin cậy của thông tin; bảo vệ tài sản và sổ sách; đẩy mạnh tính hiệu quả trong hoạt động; tăng cường sự gắn bó với các chính sách và thủ tục đã đề ra”. Như vậy, khi đề cập đến khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ là đề cập đến các chính sách, thủ tục, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng, thiết lập theo đặc trưng của đơn vị có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị. Vì vậy, hệ thống KSNB bao gồm cả KSNB và bản thân con người cùng với những phương tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hướng đến kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài. Hệ thống KSNB thường được bản thân các lãnh 4 đạo đơn vị xây dựng, thiết lập hướng vào kiểm soát các hoạt động trong phạm vi và trách nhiệm của đơn vị.
Khái niệm Hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại. Các hiệp ước Basel ra đời và phát triển đã dần trở thành chuẩn mực chung cho KSNB trong hoạt động ngân hàng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Theo Basel3, KSNB là một quá trình thực hiện bởi Ban Giám đốc, quản lý cấp cao và toàn bộ nhân viên NHTM. KSNB hoạt động liên tục ở các cấp.
Trong đó, Ban Giám đốc và lãnh đạo cấp cao của NHTM chịu trách nhiệm thiết lập HTKSNB phù hợp tạo điều kiện cho quá trình KSNB hiệu quả và theo dõi hiệu quả của nó trên cơ sở liên tục và mỗi cá nhân trong tổ chức đếu phải tham gia quá trình này, không có ai ngoại lệ. Vai trò của KSNB tại Ngân hàng thƣơng mại NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ chuyên đi vay để cho vay. Theo thông tư 13/2018/TT-NHNN và các quy định của pháp luật có liên quan HTKSNB của NHTM được tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. HTKSNB thực hiện giám sát của quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đủ vốn và kiểm toán nội bộ của NHTM.
Như vậy, KSNB có vai trò rất quan trọng trong tất cả mọi hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển của một NHTM. Đó chính là: - Bảo vệ tài sản và độ tin cậy của các báo cáo tài chính. - Bảo đảm việc tuân thủ luật pháp và các quy định. - Dự báo và ngăn ngừa rủi ro.
3 Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ 1992. Quý 4/2003, phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) được hoàn thiện. Tháng 1/2007, Basel II có hiệu lực.
Năm 2010, hiệp ước Basel III ra đời với những tiêu chuẩn chặt chẽ và ngặt nghèo hơn.