CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 SƠ LƯỢC VỀ CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở BẬC TIỂU HỌC Hệ thống giáo dục phổ thông tại Việt Nam gồm có 2 bậc học: Tiểu học và Trung (Trung học cơ sở và Trung học phổ thông). Trong đó, bậc Tiểu học đóng vai trò quan trọng vì đây là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho những cấp học cao hơn. Trong các môn học ở bậc học này thì môn Tiếng Việt là môn trọng tâm và được gọi là môn học công cụ. Môn Tiếng Việt giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp “hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi” [12].
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện thao tác của tư duy, bên cạnh đó còn “cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt, những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài, đồng thời bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [12]. Như vậy, việc dạy học Tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ: công cụ của tư duy và công cụ của giao tiếp, đồng thời phải chú trọng vào 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết và phải hướng tới sự giao tiếp. Chương trình tiểu học được biên soạn theo 5 khối lớp (1, 2, 3, 4, 5). Hệ thống tri thức, tài liệu môn học được sắp xếp theo từng khối lớp một cách trật tự, rõ ràng, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh.
Sách Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 được xây dựng dựa trên các chủ điểm học tập liên quan đến các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội. Bộ sách giáo khoa (viết gọn là, SGK) Tiếng Việt ở tiểu học được tổ chức nhằm rèn luyện các kĩ năng thông qua 6 phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện, Tập Viết, Luyện từ và câu. Hệ thống các phân môn trong chương trình Tiếng Việt Tất cả các phân môn đều có mục tiêu chung đó là phát triển tổng hợp các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Tiểu học, hình thành và bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và cao hơn là tình yêu con người, gia đình, xã hội và thiên nhiên. Tuy nhiên, mỗi phân môn đều có mục tiêu riêng, cụ thể hóa mục đích hướng tới của chính phân môn đó, cụ thể là: 21 1) Tập đọc − Rèn luyện kĩ năng tập đọc cho học sinh: đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc diễn cảm… − Bồi dưỡng vốn từ (từ khó, từ dễ đọc sai, từ nhấn mạnh…) thông qua các bài đọc và việc trả lời các câu hỏi liên quan đến bài.
− Trau dồi vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về các chủ điểm như tự nhiên, con người, xã hội… − Góp phần rèn luyện nhân cách, bồi dưỡng tư tưởng, tình yêu cái đẹp, cái thiện, thái độ ứng xử đúng mực. 2) Luyện từ và câu − Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu. − Rèn luyện kĩ năng đọc, kĩ năng dùng từ đặt câu (nói, viết) và sử dụng dấu câu thông qua việc giải quyết một số bài tập. − Bồi dưỡng thói quen cho học sinh dùng từ đúng để nói và viết thành câu.
− Tăng thích thú với việc học Tiếng Việt. 3) Chính tả − Rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc (đặc biệt là kĩ năng viết). − Nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả. − Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, trau dồi và phát triển ngữ pháp Tiếng Việt.
− Được cung cấp vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống. − Bồi dưỡng 1 số đức tính và thái độ cần thiết như: cẩn thận, chính xác, tinh thần trách nhiệm. 4) Tập làm văn − Rèn cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. − Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn.
22 − Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh. 5) Tập viết − Rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh. − Kết hợp dạy viết chữ với rèn chính tả. − Mở rộng vốn từ và phát triển tư duy.
− Hình thành và rèn luyện tính cẩn thận, óc thẩm mĩ… 6) Kể chuyện − Rèn luyện các kĩ năng nói, nghe và đọc. − Hình thành và phát triển các kĩ năng: + Độc thoại – kể lại câu chuyện đã học hoặc được nghe theo những mức độ khác nhau. + Đối thoại – tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau, phát triển dần việc sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ. + Nghe – theo dõi được câu chuyện bạn kể để kể tiếp hoặc nêu ý kiến bổ sung, nhận xét.
− Củng cố, mở rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ thông qua nội dung câu chuyện. − Phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống thông qua nội dung câu chuyện. − Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong học tập.1 Hệ thống các chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt Các chủ điểm được tổ chức với 2 đặc điểm sau: − Mọi chủ điểm đều xoay quanh mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội. Hệ thống bài đọc, bài học được tổ chức theo các chủ điểm.
Các phân môn được tích hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. 23 − Kiến K thức và v kĩ năng của lớp trêên bao hàm m kiến thức và kĩ năngg của lớp dư ưới, bậc học h dưới, nhưng n cao và v sâu hơn. Vì vậy, cáác chủ điểm m được xâyy dựng cho các bài học h từ lớp 1 cho đến lớp 5. Ở cácc lớp dưới, các chủ điểểm được dạạy tổng quáát và khi l các lớp trên thì đư lên ược khai tháác sâu hơn bằng cách chia nhỏ ccác chủ điểm m thành nhiều n chủ điểm đ nhỏ hơ ơn.
Chương g trình gồm m nhiều chủ điểm nhỏ, được mở rộộng từ 4 chủ c điểm lớ ớn là: Gia đình, Nhà trư ường, Xã hhội và Thiênn nhiên.1: Hệ H thống các chủ điểm tro ong chương ttrình Tiếng V Việt bậc tiểu học[11][12] Hình 3 minh họa hệ h thống chủ ủ điểm tron ng chương ttrình Tiếng Việt từ lớpp 1 đến lớp 5 Giải th hích: - Mỗii khối lớp tổ ổ chức bài học h theo từn ng chủ điểm m: 24 + Lớp 1 gồm 3 chủ điểm, các chủ điểm ở khối lớp này mang tính khái quát chung đem lại sự hiểu biết sơ lược về thế giới xung quanh: gia đình, nhà trường, thiên nhiên đất nước cho học sinh. + Lớp 2 và 3 đều gồm 15 chủ điểm, các chủ điểm đều mang tính chi tiết, cụ thể hơn. + Mỗi lớp 4, 5 gồm 10 chủ điểm, các chủ điểm khó hơn, chi tiết hơn , đòi hỏi thời gian học 1 chủ điểm nhiều hơn.2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG (ICT) TRONG DẠY HỌC Công nghệ thông tin và truyền thông (viết tắt là, ICT) được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin [18]. ICT được các nước trên thế giới sử dụng nhiều vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX điển hình như là Mỹ, Anh.
Tới đầu thế kỷ XXI, ICT phát triển rất mạnh mẽ, nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực trong đời sống và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo[11]. Bên cạnh đó, lịch sử giáo dục đương đại đã trải qua hai hình thái lớp học đó là lớp học Thầy đồ, lớp học “Bảng đen” và đang trong giai đoạn phát triển của hình thái thứ ba. Ở lớp học “Thầy đồ” thì mỗi thầy chỉ truyền đạt kiến thức cho một hoặc một Hình 1.2: Mô hình phát triển các trạng vài học trò theo giáo án hay chương trình riêng và thái LỚP HỌC[10] quan hệ tương tác thầy trò là trực tiếp, một – một, phát huy tối đa việc tiếp thu kiến thức từ phía học sinh và giảng dạy từ phía giáo viên.Với lớp học “Bảng đen” thì mỗi giáo viên lên lớp “giảng bài” cho một số đông học sinh nghe. Đây là mô hình dạy học đã rất quen thuộc với chúng ta, nó đã tồn tại ở châu Âu hàng chục thế kỷ và ở Việt Nam hàng trăm năm nay[11].
Trong mô hình dạy học này, giáo viên chuẩn bị giáo án theo chương trình đã quy định sẵn và chủ yếu dùng lời để truyền đạt kiến thức cho số đông học sinh. Việc giao tiếp giữa thầy và trò bị hạn chế do không đủ thời gian. 25 Với sự phát triển của công nghệ, đã xuất hiện nhiều công cụ trợ giúp cho giáo viên giảng dạy trong lớp theo kiểu “BẢNG ĐEN” (mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm, máy chiếu sáng,. Tuy nhiên tất cả các công cụ này đều chỉ hỗ trợ tốt hơn cho công việc giảng dạy hay thuyết trình của giáo viên mà không thay đổi được bản chất của công nghệ dạy học[13].
Bước vào thế kỷ 21,với sự phát triển không ngừng của xã hội thông tin thì việc dạy học với phấn và bảng đen đã không còn đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nắm bắt kiến thức và kỷ năng cần có của một công dân trong thế kỷ 21. Vì vậy mà ICT đã được ứng dụng vào trong dạy học một cách tự nhiên mà tất yếu. Và cũng từ đây một hình thái lớp học mới đã bắt đầu phát triển đó là hình thái lớp học “sau bảng đen”. Đây là hình thái phát triển thứ ba của mô hình lớp học.Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, các cuộc cách mạng đổi mới phương pháp giáo dục đã và đang xảy ra trên quy mô toàn thế giới.
Có thể tóm tắt các đặc trưng cơ bản của mô hình lớp học mới này là: + Là một sự phát triển tự nhiên và kế thừa của mô hình lớp học “BẢNG ĐEN” đã tồn tại hàng trăm năm nay. + Có sự trợ giúp tích cực của máy vi tính - đóng vai trò là công cụ hỗ trợ cho quá trình DẠY và HỌC.