CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm bài tập Xoay quanh khái niệm về bài tập cũng có những quan niệm, định nghĩa khác nhau. Theo Nguyễn Hữu Châu: “Bài tập là những nhiệm vụ, công việc được giao cho mỗi nhóm hoặc mỗi cá nhân trong khuôn khổ một chương trình học tập nhằm rèn luyện kĩ năng hay tăng cường kiến thức cho người học”.
Trong sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo. thuật ngữ bài tập xuất hiện rất nhiều như: bài tập Toán, bài tập Tiếng Việt, bài tập Tiếng Anh. Theo nghĩa này, bài tập được hiểu là dạng bài học mô phỏng lại kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích vận dụng lí thuyết và rèn luyện kĩ năng cần thiết theo chương trình môn học. Theo đó, bài tập được sử dụng chủ yếu trong hoạt động thực hành mà nhiệm vụ giải bài tập là một hình thức thực hành.
Tuy nhiên, trước xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, độc lập, sáng tạo trong nhận thức của người học thì phạm vi ứng dụng của bài tập rộng hơn nhiều. Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng, bài tập không chỉ được dùng với mục đích giúp người học vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng tương ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức mới và phát triển các kĩ năng khác. Bài tập Tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học TV. Thông qua việc thiết kế bài tập Tiếng Việt và hướng dẫn học sinh làm bài tập của giáo viên, quá trình làm bài tập của học sinh, GV có thể kiểm tra kết quả hoạt động giảng dạy của mình.
Học sinh củng cố được những tri thức vừa tiếp nhận và nắm vững những các kĩ năng dùng từ đặt câu. 7 Thực hành với bài tập TV là một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành kĩ năng ứng dụng TV trong đời sống của học sinh. Bởi vậy, hệ thống bài tập được xây dựng phải phong phú, đa dạng, thiết thực và hiệu quả. Xây dựng hệ thống bài tập Hệ thống bài tập là các bài tập được sắp xếp một cách khoa học theo những căn cứ nhất định.
Hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu là một tập hợp gồm các dạng bài tập được sắp xếp một cách khoa học, hệ thống. Có nhiều cách phân loại bài tập dựa trên những cơ sở khác nhau: căn cứ vào hình thức thiết kế (bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận); căn cứ vào nội dung chủ đề (bài tập chủ đề 1, bài tập chủ đề 2, bài tập chủ đề 3.); căn cứ vào mục tiêu dạy học (bài tập hình thành, bài tập rèn luyện, bài tập phát triển); căn cứ vào các mạch kiến thức, kĩ năng (bài tập nhận diện, phân loại, phân tích, bài tập xây dựng, tổng hợp). Dựa theo yêu cầu về năng lực, trình độ của học sinh ta có thể chia hệ thống bài tập tiếng Việt thành 3 dạng: bài tập nhận diện, bài tập vận dụng, bài tập sáng tạo. - Bài tập nhận diện giúp học sinh nhận ra hiện tượng về từ và câu cần nghiên cứu.
Ở mức yêu cầu thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữ liệu khác. Ở mức yêu cầu cao hơn, học sinh phải tự tìm các hiện tượng về từ, câu vừa học trong vốn Tiếng Việt của mình. Đây củng chính là kiểu bài tập hệ thống hóa vốn từ trong các bài tập làm giàu vốn từ. - Bài tập vận dụng là dạng bài tập yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết các bài tập, tạo điều kiện cho học sinh sử dụng những đơn vị từ ngữ, ngữ pháp đã học vào hoạt động nói năng của mình.
8 - Bài tập sáng tạo là dạng bài tập yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức một cách linh hoạt trong những tình huống mới chứ không phải là một tình huống học tập chỉ tồn tại trong trường học. Vì vậy, bài tập đặt câu sáng tạo chỉ có thể thực hiện khi học sinh có trình độ cao và có ý cần diễn đạt. Tuy nhiên, xác định sự khác biệt của các kiểu bài tập này chỉ có ý nghĩa tương đối bởi ranh giới giữa chúng không thật rạch ròi. Lí do là các yêu cầu của một bài tập thường có sự đan xen, lồng ghép vào nhau, nhất là đối với hai kiểu bài tập vận dụng và sáng tạo.
Hơn thế, mối quan hệ giữa vận dụng và sáng tạo trong thực tế lại rất khăng khít vì vận dụng là cơ sở, tiền đề để sáng tạo và ở một góc độ nhất định thì sáng tạo cũng là một cái đích để vận dụng hướng tới. Hệ thống bài tập cần được xây dựng sao cho có khả năng giúp học sinh thực hiện đến mức thành thục các thao tác nói năng. Nó phải phản ánh được một cách bao quát cơ chế lĩnh hội và sản sinh lời nói. Khái niệm về từ tiếng Việt Theo Đỗ Hữu Châu định nghĩa về từ được hiểu như sau: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu" [4, tr.
Định nghĩa này cho ta thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp,. từ của Tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu. Tính cố định, bất biến về âm thanh là điều kiện hết sức quan trọng giúp ta nhận diện từ một cách dễ dàng. Song cũng vì tính cố định và bất biến mà bản thân hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng.
Nói cách khác, ở tiếng Việt, "đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu" [4, tr. 9 * Các thành phần ý nghĩa của từ: Tuỳ theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây (những thành phần ý nghĩa này được Đỗ Hữu Châu phân biệt rất kĩ): - Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật. - Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm. - Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư, đó là: - Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp. Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững tương đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ mà có.
Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác trong ngôn ngữ quy định nên. Sự vật, hiện tượng, đặc điểm. ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ. Nói cách khác, "ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng.
trong thực tế vào ngôn ngữ" [4, tr. Ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng y như chúng có thực trong thực tế, chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi. Nói như vậy có nghĩa là nghĩa biểu vật của từ không đồng nhất với sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động. mà chỉ gợi ra sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động.
Nghĩa biểu niệm của từ "là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ" [4, tr. Nghĩa biểu niệm là sự liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm).
Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói. 10 Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, thể nghiệm bởi con người. Do đó cùng với tên gọi, con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình. Tóm lại, ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các loại nghĩa tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ.
Vì từ là một thể thống nhất cho nên các thành phần ý nghĩa trên là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó. Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng. * Khái niệm về trường nghĩa: Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp.
Có nghĩa là, tính hệ thống về ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Dựa vào các trường nghĩa, ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.
Nói một cách khác, mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ vựng của một ngôn ngữ. Người ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trường nghĩa, tuỳ theo từng tiêu chí. Có thể chia hệ thống từ vựng thành trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm. - Trường biểu vật: 11 Trường nghĩa biểu vật "là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự vật, hiện tượng thực tế khách quan" [4, tr.
Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ. Ví dụ, trường nghĩa biểu vật về động vật: + Tên các loài: chó, bò, mèo, trâu. + Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: thân, chân, mỏ, đuôi, mõm.