CHƯƠNG 1 – PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HIỆN ĐẠI 1. QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HIỆN ĐẠI Từ sau 1986 đến nay, nền giáo dục Việt Nam đã có một bước chuyển dài dưới sự tác động mạnh mẽ của các ngành khoa học đương đại. Phương pháp dạy học mới vận dụng thành tựu của tâm lý học, giáo dục học và khoa học công nghệ hiện đại nhằm phát huy cao nhất tính tích cực của người học. Chúng tôi gọi đó là Phương Pháp Dạy Học Hiện Đại (PPDHHĐ) trong mối tương quan với phương pháp dạy học truyền thống.
Những tác động dẫn đến sự hình thành PPDHHĐ PPDHHĐ được hình thành dưới những tác động sau: Sự bùng nổ thông tin trên phạm vi toàn cầu, cùng sự phát triển của công nghệ điện tử bắt đầu từ phương Tây, tạo áp lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học. Anderla, dẫn theo Thái Văn Hào [2008: 112], “kể từ thập niên 60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian dưới 7 năm để tăng gấp đôi. Và khoảng thời gian ấy ngày càng được thu ngắn lại” và “kể từ 1995, trung bình tối thiểu mỗi ngày có ít nhất 4000 tựa sách khoa học không chỉ được phát hành mà còn được bổ sung vào thư mục ở các thư viện của các đại học và trung tâm nghiên cứu.” Qua hơn hai thập niên mở cửa hội nhập, những thành tựu vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông phương Tây đã tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng thiết lập kết nối với hệ thống truyền thông quốc tế qua nhiều kênh khác nhau. Theo đó, một lượng tri thức khổng lồ của nhân loại đã chuyển vào nước ta, tạo áp lực lớn cho ngành giáo dục và toàn xã hội.
Trong tình hình ấy, phương pháp dạy học theo lối “lấy thầy làm trung tâm” đã bộc lộ những hạn chế trong việc cung cấp tri thức cho người học nói chung và cho thế hệ trẻ nói riêng. Một yêu cầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học. Và phương pháp dạy học mới phải phục vụ tốt cho việc tiếp thu có hiệu quả tri thức nhân loại. Những thành tựu về mặt lý luận của ngành 11 tâm lý giáo dục đã củng cố cho lý luận dạy học hiện đại và thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, chuyển nghiên cứu tâm lý người dạy sang nghiên cứu tâm lý người học lẫn người dạy.
Ngành tâm lý giáo dục khơi dậy nhiều vấn đề mới, cần phải giải quyết trong quá trình dạy và học [Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), 2006: 139]: “Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.” Ở đây vài trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người dạy được đặc biệt coi trọng. Xu hướng nghiên cứu liên ngành và những thành tựu của nó cũng có những tác động trực tiếp đến phương pháp dạy học mới. Phương pháp dạy học truyền thống dựa trên hệ thống các tiêu chí cơ bản gồm: nguồn tri thức và đặc điểm tri giác thông tin. Hệ thống này gồm các nhóm phương pháp sau: - Nhóm các phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ: phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu; - Nhóm phương pháp dạy học trực quan: phương pháp trực quan, phương pháp minh hoạ, phương pháp biểu diễn thí nghiệm; - Nhóm phương pháp dạy học thực hành: phương pháp luyện tập, phương pháp thực hành thí nghiệm.
Thành tựu liên ngành tâm lý học, công nghệ thông tin, khoa học quản lí,… tạo ra hệ thống tiêu chí mới trong phương pháp giảng dạy hiện đại. Theo hướng này, khái niệm dạy và học cũng được nhận thức lại. Những thành tựu của công nghệ mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Những phương thức dạy học có sự hỗ trợ của kỹ thuật điện toán trong giảng dạy đã đạt hiệu quả hơn so với những phương thức đã có từ trước.
Một số phương pháp dạy học có sự trợ giúp của công nghệ mới như: - Dạy với sự trợ giúp của máy tính (CBT: computer-based training hay CBI: computer-based instruction); - Dạy học dựa trên công nghệ web (WBT: web-based training). Phương pháp này sử dụng gắn với phương pháp đào tạo trực tuyến (on-line learning). Cũng từ 12 nguyên do này mà cụm từ “on-line” được dùng với nghĩa tương đương với internet. - Dạy học dựa trên công nghệ internet (IBT: internet-based training).
Bảng 1: Các mô hình dạy học từng được áp dụng Mô hình Chủ thể trung tâm Vai trò người học Công nghệ truyền thống người thầy thụ động bảng/ TV/ radio thông tin người học chủ động PC/ overhead/ projector kiến thức (*) nhóm thích nghi PC + mạng (*) mô hình kiến thức được xem là kết quả của quá trình xử lí thông tin. Một số loại hình PPDHHĐ đã được xác định Đến nay, đã xác định được một số phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, đem lại hiệu quả cho người học như sau: Phương pháp động não: Người dạy đưa ra chủ đề (topic), tổ chức lớp thành nhóm, cụm để suy nghĩ, đưa ra ý tưởng. Các ý tưởng này sẽ có người ghi lại. Người dạy đóng vai trò điều khiển, động viên người học đưa ra ý tưởng liên tục.
Công việc đánh giá, lựa chọn những ý tưởng tốt được tiến hành trên cơ sở thảo luận tập thể, tôn trọng ý kiến của tập thể lớp. Phương pháp tạo tình huống: Thao tác được áp dụng chủ yếu trong phương pháp này là nêu và giải quyết vấn đề. Người thầy chủ động nêu các tình huống có vấn đề, thường là những vấn đề xuất phát từ thực tiễn để người học cùng trao đổi, thảo luận, giải quyết. Tình huống có vấn đề được xác định thông quan 3 tiêu chí cơ bản sau đây: - Là cách nhận thức và những tri thức người học chưa biết; - Xuất phát từ nhu cầu về nhận thức của người học; - Phù hợp khả năng tiếp thu, lý giải dựa trên kiến thức, kinh nghiệm của người học.
Có thể phân tình huống có vấn đề thành 3 loại chính: - Tình huống nghịch lý: vấn đề tưởng như vô lý về bình diện nào đó nhưng về cơ bản vẫn có thể chứng minh tính đúng đắn của nó; 13 - Tình huống bác bỏ: tìm lý lẽ và dẫn chứng để bác bỏ một luận điểm hay kết luận nào đó; - Tình huống khẳng định: tìm lý lẽ và dẫn chứng để khẳng định một luận điểm hay kết luận có tính khái quát hoặc chứa thông tin mới đối với người học. Phương pháp xây dựng dự án: Phương pháp này thường dùng cho các lớp cuối cấp học phổ thông trung học hoặc đại học theo đó người học tự lựa chọn chủ đề, tự đề ra các nhiệm vụ cụ thể và tự tổ chức, giải quyết vấn đề (thường hướng vào giải quyết những vấn đề liên quan đến thực tiễn xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội của địa phương). Trên cơ sở thống nhất chủ đề, lớp chia nhóm để cùng nghiên cứu, thu thập, phân tích xử lý dữ liệu. Các nhóm trình bày kết quả của mình để tập thể góp ý và cùng xây dựng những giải pháp chung cho chủ đề đã chọn.
Phương pháp này có tính định hướng cao: định hướng tư duy, định hướng hành động, định hướng kết quả, định hướng tích hợp,…; có hình thức đa dạng: học trong phòng học hoặc học ngoài trời; và có chủ đề học thuộc lĩnh vực chuyên môn hoặc liên môn; có ưu thế là chú trọng vào việc gây hứng thú cho người học và khuyến khích người học (1) tư duy độc lập, (2) hành động tự lập, và (3) mở rộng hiểu biết, tầm nhìn đối với thế giới bên ngoài. Những thành quả công nghệ điện tử được vận dụng trong PPDHHĐ Được vận dụng trong PPDHHĐ là những thành quả công nghệ điện tử sau đây: Tài liệu học tập (learning material) được thiết kế theo một tuyến liên tục dưới dạng các trang (slides). Phương thức này cung cấp thẳng nội dung, người học chỉ việc theo dõi liên tục chứ không thể có sự tương tác vào quá trình dạy học. Được thiết kế tốt, phương thức này gây sự tập trung chú ý và tạo sự hấp dẫn; ngược lại, nó sẽ trở thành một “bộ lật trang điện tử” hay “bộ cuộn trang” và như vậy nó chỉ là một sự thay thế cho phương thức đọc chép (dùng phương thức chiếu chép thay cho đọc chép).
14 Thế giới thực được mô phỏng bằng kỹ thuật số. Các phần mềm mới nhất cho phép người học thâm nhập thực sự vào thế giới số gần như ở trạng thái thực. Phương thức mô phỏng thường dùng trong các lớp huấn luyện kỹ thuật phức tạp như đào tạo phi công, phi hành gia. Tác vụ được hỗ trợ bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm giúp người học giải quyết nhanh những tình huống chưa gặp hoặc đã gặp, đã học nhưng ngay thời điểm thực hành không thể nhớ ra.
Hệ thống này không hướng dẫn người học tự vận hành, sử dụng phương tiện mà chỉ “xuất hiện” khi có một yêu cầu hỗ trợ hay hướng dẫn cần thiết, ví dụ như phần “Help” trong các ứng dụng của Microsoft Office. Trò chơi kiến thức được sử dụng để phục vụ mục đích đào tạo trên diện rộng. Các trò chơi này vừa cung cấp kiến thức vừa tạo sự tập trung chú ý đồng thời gây hứng thú để giảm căng thẳng cho người học. Các chương trình trò chơi được xây dựng rất đa dạng, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.
Nhờ sự hỗ trợ của các phần mềm cài đặt sẵn, người tham gia trò chơi có thể tự đánh giá mình một cách vui vẻ và có hiệu quả. Mô hình trò chơi kiến thức này ngày càng trở thành phổ biến và có tác động tích cực trong đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, nếu không quản lý chặt chẽ hoạt động của các nhóm (nhất là nhóm trẻ) tại những nơi khai thác thông tin mạng thì mô hình này có thể trở thành phản tác dụng. ❖ Giáo dục điện tử (e-learning) Sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại trong ngành giáo dục đã hình thành khái niệm “giáo dục điện tử.