lời mở đầu về mục đích của Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế ta có thể xác định được tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế: Tính quốc tế của hợp đồng có thể xác định bởi nhiều cách. Pháp luật quốc gia và quốc tế đưa ra nhiều giải pháp, từ việc căn cứ vào trụ sở hay nơi cư trú thường xuyên của các bên tại các quốc gia khác nhau đến việc áp dụng những tiêu chí tổng quát hơn như việc hợp 6 đồng có “các mối liên hệ mật thiết với hơn một quốc gia” hay hợp đồng “đòi hỏi sự lựa chọn pháp luật của các quốc gia khác nhau” hay hợp đồng “có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương mại quốc tế”. Qua đó, ta thấy rằng, tính quốc tế mà Bộ nguyên tắc của Unidroit xác định đó là dựa vào nơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác, hoặc xác định một cách rộng hơn, tổng quát hơn là liên quan tới nhiều quốc gia, liên quan đến sự lựa chọn luật giữa các nước khác nhau hay hợp đồng đó có ảnh hưởng đến quyền lợi trong buôn bán quốc tế cũng được xem là tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để xác định tính quốc tế được đưa ra quá rộng phần nào gây khó khăn cho việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Theo CISG 1980 của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 1 quy định: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau”. Tính chất quốc tế được xác định bởi một tiêu chuẩn duy nhất, đó là các bên có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. CISG 1980 không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định tính quốc tế, cũng không đưa ra tiêu chí hàng hóa phải chuyển qua biên giới của một nước. Chỉ cần giữa các bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau là đã mang tính quốc tế.
Cách này đã làm cho việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng thương mại quốc tế trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Pháp luật Việt Nam cũng không đưa ra định nghĩa rõ ràng nào về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo Điều 758 BLDS 2005 định nghĩa về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài “là quan hệ dân sự có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Yếu tố nước ngoài ở đây được xác định dựa vào chủ thể tham gia quan hệ dân sự, sự việc hay tài sản trong quan hệ dân sự đó mang yếu tố nước ngoài.
Còn theo Điều 27 LTM 2005 7 về mua bán hàng hóa quốc tế chỉ ra rằng: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” (khoản 1). Cụ thể, đối với hình thức xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Đối với hình thức nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Còn tạm xuất, tái nhập hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam. Đối với hình thức chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam2. Như vậy, theo cách xác định của LTM 2005 thì mua bán hàng hóa quốc tế là quan hệ mua bán giữa các thương nhân với nhau trong đó có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia hoặc qua biên giới hải quan của một nước. Khác với CISG 1980, yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định dựa vào trụ sở kinh doanh của các bên trong hợp đồng, còn LTM 2005 lại dựa vào sự dịch chuyển của hàng hóa.
Khi hàng hóa trong hợp đồng có sự dịch chuyển đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ của quốc gia hoặc khu vực hải quan riêng nằm trên lãnh thổ Việt Nam dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu thì được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. 2 Xem Điều 27-30 LTM 2005 8 Qua tìm hiểu quy định của các hệ thống pháp luật trên thế giới, một cách khái quát, có thể định nghĩa rằng: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được ký kết dựa trên sự thỏa thuận giữa các thương nhân có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau hoặc hàng hóa có sự dịch chuyển ra khỏi phạm vi biên giới của một quốc gia, theo đó, người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao chứng từ cho bên mua, người mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của một hợp đồng thông thường, tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn mang những đặc điểm riêng biệt. Về chủ thể, về đối tượng, về hình thức hay nội dung… hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế luôn mang những đặc trưng riêng mà dựa vào đó có thể phân biệt với các loại hợp đồng khác. Về chủ thể Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân hoặc một trong hai bên phải là thương nhân.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của LTM 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”. Và theo CISG 1980 các thương nhân phải có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú của họ, còn quốc tịch của cá nhân người đại diện của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định các yếu tố của hợp đồng. Về đối tƣợng của hợp đồng Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa được phân thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Dưới góc độ pháp luật, hàng hóa được phân thành động sản và bất động sản. 9 Theo CISG 1980, thì việc mua bán hàng hóa không áp dụng trong các trường hợp: “- Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ thời gian trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng, không biết hoặc không cần biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế. - Để thi hành luật hoặc để thực hiện các quyết định tư pháp. - Các cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu hoặc tiền tệ.
- Tàu thủy, máy bay và các thiết bị bay, tàu chạy trên đệm không khí.” (Điều 2) Như vậy, CISG 1980 đã loại trừ việc mua bán đối với một số đối tượng như cổ phiếu, trái phiếu, tàu thủy, máy bay, điện năng… Theo đó, các hàng hóa không thuộc các đối tượng liệt kê trên đều có thể trở thành hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo khoản 2 Điều 3 LTM 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất. Nếu như CISG quy định đối tượng của hàng hóa bằng phương pháp loại trừ thì LTM 2005 lại quy định bằng phương pháp liệt kê. Theo đó hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất đai.
Tuy nhiên, khái niệm về hàng hóa vẫn còn có sự hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình. Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ…chưa được thừa nhận là hàng hóa. 10 Tuy nhiên, không phải lúc nào hàng hóa đáp ứng các điều kiện nêu trên là trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Mỗi quốc gia khác nhau thì có quy định khác nhau về những loại hàng hóa cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hoặc kinh doanh có điều kiện… Do đó, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên phải lưu ý hàng hóa đó có phải là hàng hóa được phép lưu thông thương mại theo quy định của quốc gia mà mình ký kết hợp đồng hay không để tránh những rủi ro trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng.
Về đồng tiền thanh toán Vì là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên ký kết có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, hệ thống tiền tệ khác nhau, nên thông thường, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên (Ví dụ như các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng Châu Âu sử dụng đồng Euro là đồng tiền chung). Các bên khi ký kết cần cẩn thận trong việc thỏa thuận lựa chọn đồng tiền thanh toán sao cho thuận tiện nhất đối với các bên và dễ dàng cho việc thanh toán cũng như hạn chế tối đa được rủi ro do sự biến động về tỉ giá ngoại tệ trên thị trường.