Luận văn pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực ti n áp dụng tại công ty cổ phần xuất khẩu thủy sản 2 quảng ninh

Luận văn phân tích pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
56
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

1.2. PHẦN MỞ ĐẦU

1.2.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

1.2.3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

1.2.4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

1.2.5. Phương pháp nghiên cứu

1.2.6. Kết cấu bài khóa luận tốt nghiệp

2. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

2.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.2. Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2.2.1. Nội dung pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
2.2.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.4. Kết luận chương 1

3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT KHẨU THỦY SẢN 2 QUẢNG NINH

3.1. Tổng quan tình hình và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam

3.2. Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.2.1. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.2.2. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.3. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

3.3.1. Khái quát hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

3.3.2. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

3.4. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu

3.5. Kết luận chương 2

4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

4.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và nâng cao hiệu quả áp dụng tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

4.2.1. Về phía Nhà nước

4.2.2. Về phía Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

4.2.3. Về phía pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

4.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

4.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lý luận cơ bản về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Phần này tập trung vào các khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được định nghĩa là thỏa thuận giữa các bên có trụ sở tại các quốc gia khác nhau, nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. Pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm các quy định pháp lý điều chỉnh việc giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng. Cơ sở ban hành pháp luật này dựa trên các điều ước quốc tế như Công ước Viên 1980 (CISG) và các tập quán thương mại quốc tế. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm các quy định về giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật này là tự do ý chí, bình đẳng và thiện chí giữa các bên.

1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thỏa thuận pháp lý giữa các bên có trụ sở tại các quốc gia khác nhau, nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. Hợp đồng này thường liên quan đến các yếu tố như giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán và giải quyết tranh chấp. Các quy định pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này bao gồm cả pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên 1980 (CISG).

1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật

Cơ sở ban hành pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên các điều ước quốc tế như CISG, các tập quán thương mại quốc tế và pháp luật quốc gia. Nội dung pháp luật bao gồm các quy định về giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Các nguyên tắc cơ bản như tự do ý chí, bình đẳng và thiện chí được áp dụng để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của hợp đồng.

II. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

Phần này phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh. Thực trạng pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ hội nhập quốc tế. Các quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng còn thiếu chi tiết, dẫn đến tranh chấp phổ biến. Tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh, việc áp dụng pháp luật trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là trong việc tuân thủ các điều ước quốc tế và tập quán thương mại. Công ty cần cải thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng để giảm thiểu rủi ro pháp lý.

2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn nhiều bất cập. Các quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng chưa chi tiết, dẫn đến tranh chấp phổ biến. Việc thiếu hụt các quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý và giải quyết tranh chấp làm giảm hiệu quả của hợp đồng. Cần có sự cải thiện để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

2.2. Thực tiễn áp dụng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

Tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh, việc áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa thực sự hiệu quả. Công ty thường gặp khó khăn trong việc tuân thủ các điều ước quốc tế và tập quán thương mại. Cần cải thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng để giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng

Phần này đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và nâng cao hiệu quả áp dụng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh. Về phía Nhà nước, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế. Về phía doanh nghiệp, cần tăng cường đào tạo nhân viên về pháp luật hợp đồng quốc tế và cải thiện quy trình giao kết, thực hiện hợp đồng. Các giải pháp này nhằm giảm thiểu tranh chấp và nâng cao hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Về phía Nhà nước, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để phù hợp với thông lệ quốc tế. Cần cụ thể hóa các quy định về giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng. Đồng thời, cần tham gia tích cực vào các điều ước quốc tế để tăng cường tính thống nhất và hiệu quả của pháp luật.

3.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng tại doanh nghiệp

Về phía Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh, cần tăng cường đào tạo nhân viên về pháp luật hợp đồng quốc tế. Cải thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng để giảm thiểu rủi ro pháp lý. Đồng thời, cần chủ động tuân thủ các điều ước quốc tế và tập quán thương mại để nâng cao uy tín và hiệu quả kinh doanh.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) có nghĩa là ràng buộc, xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V – IV trước công nguyên. Sau khi đế quốc La Mã tan rã, các nước châu Âu đã chấp nhận dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ La Mã.

Xuất phát từ thuật ngữ “contractus”, trong tiếng Anh thuật ngữ này được gọi là “contract”, trong tiếng Pháp là “contrat”, tiếng Nga là “kontrakt”… Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến thuật ngữ này có thể gọi là “khế ước” và đến ngày nay từ “hợp đồng” đã trở nên gần gũi hơn sau quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước ta.[2] Về khái niệm hợp đồng, cũng có nhiều quan điểm khác nhau theo thời gian. Theo Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới (Bộ luật dân sự Pháp năm 1804) thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc” hoặc theo Bộ luật dân sự Liên bang Nga năm 1994: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”… Với Việt Nam, nếu như trước đây khái niệm “khế ước” còn chưa để lại nhiều dấu ấn thì sau khi cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm “hợp đồng” đã thực sự thể hiện được vị trí của nó trong đời sống xã hội. Cụ thể, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, có thể định nghĩa hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.

Giữa hợp đồng và hoạt động mua bán hàng hóa có quan hệ mật thiết với nhau, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. [3] Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và 2[] Theo Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.38 3[] Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005 13 nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Luật thương mại nước ta không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Theo Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản cho nên hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận, có tính đền bù và là hợp đồng song vụ.

Về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế như sau: Điều 1 Công ước La Hay năm 1964 (Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau”. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”[4]. Khác với Công ước La Hay năm 1964, các yếu tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc dịch chuyển qua biên giới đối với đối tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập tới.

Công ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được xác định bởi yếu tố duy nhất là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có tính quốc tế mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. 4[] Căn cứ Điều 1 Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 14 Tuy nhiên ngoài các công ước quốc tế, hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật Pháp, việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa được căn cứ vào tiêu chí kinh tế hoặc pháp lý.

Về tiêu chí kinh tế, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế khi nó tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán[5]. Còn ở Việt Nam, việc đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn chưa được quan tâm thích đáng; căn cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [6]. Nghĩa là, theo quy định của Luật thương mại năm 2005, hoạt động mua bán hàng hoá được coi là mua bán hàng hoá quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam hay nước ngoài.

Luật thương mại năm 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hoá qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hoá là mua bán hàng hoá quốc tế. Tóm lại, hiện nay trên thế giới và trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một định nghĩa thống nhất xác định cụ thể, trực tiếp phạm vi nội hàm của khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế. Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.

Theo đó, trong mối quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế tương đối phức tạp với sự ảnh hưởng từ nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò là hệ thống các quy tắc xử sự, điều chỉnh mối quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài giữa các bên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng. Pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể thúc đẩy quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế phát triển khi những quy định của nó phù hợp, phản ảnh đúng trình độ phát triển của quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế; và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của mối quan hệ mua bán này khi những quy định của nó không tương thích với thực tiễn. Đối với công tác tổ chức và quản lý hoạt động thương mại quốc tế của ở mỗi quốc gia, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa có tầm 5[] Theo Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr.16 6[] Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 15 quan trọng nhất định. Bởi quá trình quản lý kinh tế không thể thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật.

Chỉ trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, kịp thời; Nhà nước mới có thể phát huy được hiệu quả chức năng của mình trong tổ chức và quản lý thương mại quốc tế. Vì những lý do đó, pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam luôn cần đến sự quan tâm đúng mức trong công tác sửa đổi, bổ sung, làm mới các quy định để có sự tương thích với tình hình kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Pháp Luật Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Quốc Tế & Ứng Dụng Tại Công Ty Xuất Khẩu Thủy Sản 2 Quảng Ninh là một nghiên cứu chuyên sâu về các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, với trọng tâm là ứng dụng thực tiễn tại Công Ty Xuất Khẩu Thủy Sản 2 Quảng Ninh. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các khía cạnh pháp lý, từ giao kết đến thực hiện hợp đồng, đồng thời phân tích những thách thức và giải pháp trong quá trình xuất khẩu thủy sản. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực thương mại quốc tế và pháp luật kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể khám phá thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế so sánh với pháp luật CHDCND Lào và giải pháp hoàn thiện, hoặc tìm hiểu sâu hơn về thực tiễn áp dụng pháp luật trong Luận văn thạc sĩ luật học xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản tại Công Ty Cổ Phần Xuất Khẩu Thuỷ Sản II Quảng Ninh cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu thủy sản.