Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam được định hình từ các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), VII (1991) và VIII (1996), từng bước chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiến trình hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh thông qua việc gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào ngày 25/7/1995, trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/07/2011, cũng như tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sự mở rộng giao thương quốc tế thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, đưa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trở thành công cụ pháp lý cốt lõi xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân xuyên biên giới.
Tuy nhiên, sự gia tăng của hoạt động thương mại quốc tế cũng đi kèm với số lượng tranh chấp thương mại ngày càng lớn. Thống kê từ Hội thảo "Việt Nam gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế" ngày 01/11/2013 cho thấy, từ năm 1993 đến năm 2013, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã thụ lý giải quyết gần 1.000 vụ tranh chấp, trong đó có tới 70% số vụ liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Thực trạng này phản ánh hành lang pháp lý của Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn những điểm bất cập, chưa hoàn toàn tương thích với thông lệ thương mại quốc tế.
Tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh (AQUAPEXCO), hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy hải sản sang các thị trường nước ngoài như Nhật Bản, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Malaysia, Đài Loan, Qatar, Jordan... đòi hỏi việc áp dụng pháp luật hợp đồng phải chặt chẽ. Mặc dù doanh nghiệp đã chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần từ năm 2005, việc thực thi các quy định pháp luật trong đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn bộc lộ hạn chế nhất định. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn vận dụng tại một đơn vị kinh doanh cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: hệ thống khái niệm, đặc điểm pháp lý, cơ sở ban hành, nội dung và các nguyên tắc điều chỉnh.
- Phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam; so sánh, đối chiếu với các điều ước quốc tế và quy định pháp luật của một số quốc gia.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật trong giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.
- Đề xuất định hướng, quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi hợp đồng tại doanh nghiệp.
Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong các giai đoạn giao kết và thực hiện hợp đồng.
- Hoạt động áp dụng pháp luật trong giao kết và thực hiện hợp đồng tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào khung lý luận pháp lý, thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn thi hành tại doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản.
- Không gian: Hệ thống pháp luật Việt Nam, thực tiễn tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh và các đối tác thương mại liên quan.
- Thời gian: Khảo sát số liệu và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật thực định, điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế, bao gồm:
- Pháp luật Việt Nam: Bộ luật Dân sự năm 2005 (khái niệm hợp đồng dân sự tại Điều 388, hợp đồng mua bán tài sản tại Điều 428, năng lực chủ thể tại Điều 14 và Điều 17, nguyên tắc tự do cam kết tại Điều 4); Luật Thương mại năm 2005 (khái niệm thương nhân tại Điều 6, định nghĩa hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 27); Nghị định số 12/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thương mại; Thông tư số 88/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Văn bản và điều ước quốc tế: Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980); Công ước La Hay năm 1964; Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC); Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 500); Điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2010); Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001; Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN); Bộ luật Vệ sinh thực phẩm Nhật Bản.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình Luật Thương mại quốc tế, các công trình nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo chuyên ngành, tài liệu từ Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), báo cáo tổng hợp từ Phòng Tài chính - Kế toán của Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua quan sát trực tiếp quy trình soạn thảo, đàm phán hợp đồng và khảo sát thực tế tại các phòng ban nghiệp vụ trong thời gian tác giả thực tập tại doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp biện chứng: Phân tích các quy định pháp luật trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện kinh tế - xã hội và sự vận động qua các thời kỳ sửa đổi, bổ sung.
- Phương pháp duy vật lịch sử: Truy nguyên nguồn gốc phát triển của chế định hợp đồng từ thời kỳ La Mã cổ đại (khái niệm contractus), pháp luật phong kiến (chế định khế ước), cho đến Bộ luật Dân sự Pháp 1804, Bộ luật Dân sự Nga 1994 và các bộ luật hiện đại của Việt Nam để chỉ ra bản chất pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa.
- Phương pháp liệt kê so sánh, đối chiếu: So chiếu quy định giữa Luật Thương mại 2005 của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế như CISG 1980, pháp luật Cộng hòa Pháp về tiêu chí xác định tính quốc tế của hợp đồng và các chế tài xử lý vi phạm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ các điều khoản mẫu trong hợp đồng xuất nhập khẩu của công ty khảo sát, tổng hợp các tồn tại pháp lý để xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chế định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Về mặt thuật ngữ, từ contractus thời La Mã được các hệ thống luật hiện đại kế thừa (contract, contrat, kontrakt). Pháp luật thực định Việt Nam tiếp cận hợp đồng mua bán hàng hóa dưới góc độ là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2005, mang ba đặc tính pháp lý: hợp đồng ưng thuận, có tính đền bù và là hợp đồng song vụ.
Về tiêu chí xác định tính chất "quốc tế", tác giả so sánh các trường phái tiếp cận:
- Công ước La Hay 1964 kết hợp cả tiêu chí trụ sở thương mại tại các nước khác nhau và sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới hoặc địa điểm ký kết.
- CISG 1980 (Điều 1) chỉ căn cứ vào tiêu chí duy nhất là các bên tham gia có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau.
- Pháp luật Pháp áp dụng kết hợp tiêu chí kinh tế (sự dịch chuyển giá trị trao đổi qua biên giới) và tiêu chí pháp lý (quốc tịch, nơi cư trú, nơi thực hiện hợp đồng, nguồn vốn).
- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (khoản 1 Điều 27) không phụ thuộc vào nơi cư trú hay quốc tịch của các bên mà xác định tính quốc tế thông qua các phương thức luân chuyển hàng hóa: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu.
Nội dung pháp luật điều chỉnh quá trình giao kết hợp đồng bao gồm các yếu tố cốt lõi:
- Chủ thể: Thương nhân (tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh) và các chủ thể phi thương nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
- Nội dung điều khoản: Đối tượng hàng hóa, số lượng, chất lượng (xác định theo tiêu chuẩn ISO, TCVN, mẫu hàng hoặc yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu), giá cả, phương thức thanh toán quốc tế (chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ L/C), điều kiện giao hàng (CIF, FOB, DDU), điều khoản chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp.
- Hình thức và ngôn ngữ: Pháp luật Việt Nam bắt buộc hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương (fax, điện tín, telex, thư điện tử). Ngôn ngữ hợp đồng thường được xác lập bằng tiếng nước ngoài, phổ biến nhất là tiếng Anh.
- Trình tự giao kết: Trải qua hai giai đoạn đề nghị giao kết (chào hàng) và chấp nhận đề nghị giao kết (chấp nhận chào hàng).
Nội dung pháp luật điều chỉnh quá trình thực hiện hợp đồng và chế tài vi phạm:
- Nghĩa vụ bên bán: Giao hàng đúng đối tượng, số lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm; chuyển giao chứng từ; kiểm tra hàng hóa trước khi giao; bảo đảm quyền sở hữu không bị tranh chấp bởi bên thứ ba; thực hiện nghĩa vụ bảo hành.
- Nghĩa vụ bên mua: Tiếp nhận hàng hóa và thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo phương thức đã cam kết.
- Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại 2005: Áp dụng khi có hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả và yếu tố lỗi. Các hình thức chế tài bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng (toàn bộ hoặc một phần) và bồi thường thiệt hại.
- Nguyên tắc điều chỉnh: Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội (quy định tại Điều 4 Bộ luật Dân sự 2005).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh
Trong chương này, tác giả đặt trọng tâm so sánh sự tương thích giữa Luật Thương mại Việt Nam 2005 và CISG 1980, đồng thời khảo sát thực tế áp dụng tại doanh nghiệp.
| Nội dung pháp lý |
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 |
Công ước Viên năm 1980 (CISG) |
| Tiêu chí xác định tính quốc tế |
Dựa trên sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia (Điều 27). |
Dựa trên địa điểm trụ sở thương mại của các bên ở các quốc gia khác nhau (Điều 1). |
| Căn cứ thay thế hàng hóa vi phạm |
Cho phép lựa chọn sửa chữa hoặc thay thế nhưng không quy định tiêu chí cụ thể. |
Chỉ cho phép thay thế khi hành vi vi phạm cấu thành "vi phạm cơ bản" hợp đồng. |
| Chế tài phạt vi phạm |
Quy định cụ thể như một hình thức chế tài độc lập khi các bên có thỏa thuận. |
Không quy định chế tài phạt vi phạm hợp đồng. |
| Miễn trách nhiệm do bên thứ ba |
Chưa có quy định chi tiết về trường hợp vi phạm do lỗi của bên thứ ba. |
Quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm khi vi phạm phát sinh do người thứ ba được ủy thác. |
| Bồi thường thiệt hại và hạn chế tổn thất |
Ghi nhận thiệt hại gồm tổn thất thực tế và khoản lợi bị bỏ lỡ; áp dụng nguyên tắc hạn chế tổn thất. |
Ghi nhận tổn thất và khoản lợi bỏ lỡ; quy định rõ trách nhiệm bên bị vi phạm phải áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất. |
Về thực tiễn tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh (AQUAPEXCO):
- Thông tin doanh nghiệp: Tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước thành lập năm 1988, chuyển đổi thành công ty cổ phần từ tháng 4/2005 theo Quyết định số 552/QĐ-CT ngày 16/02/2005 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Năng lực sản xuất: Khai thác vùng nguyên liệu nuôi trồng với diện tích khoảng 9.000 ha mặt nước tại thị xã Quảng Yên cùng nguồn hải sản đánh bắt từ hàng trăm tàu thuyền với sản lượng 2.000 - 2.500 tấn/năm. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực là tôm và mực, bên cạnh cá đổng lượng, cá thu fillet, ghẹ nguyên con, chả mực rán, chả cá... Thị trường xuất khẩu chính gồm Nhật Bản (xuất trực tiếp từ 1996), Mỹ, EU... Khối lượng xuất khẩu đạt hàng trăm tấn mỗi năm, doanh thu hàng chục triệu USD.
- Giao kết hợp đồng: Doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc nhận ủy thác. Đơn vị định lượng thỏa thuận thống nhất là kilôgam. Bao bì đóng gói sử dụng hai lớp giữ nhiệt do Công ty Sản xuất bao bì Thành Lương cung cấp, vận chuyển bằng container lạnh. Đa số hợp đồng soạn thảo bằng tiếng Anh, sau đó công ty phải chi trả thêm chi phí dịch thuật sang tiếng Việt để phục vụ các thủ tục hành chính trong nước. Tiền tệ thanh toán là Euro (cho thị trường châu Âu) và USD (cho các thị trường khác).
- Thực hiện hợp đồng: Mặt hàng xuất khẩu không thuộc danh mục cấm hoặc xuất khẩu có điều kiện theo Thông tư 88/2011/TT-BNNPTNT nên doanh nghiệp không phải xin giấy phép xuất khẩu. Quy trình xuất khẩu gồm: tiếp nhận và kiểm tra L/C, chuẩn bị hàng đông lạnh, giao hàng theo điều kiện FOB (Incoterms 2010), giải quyết thủ tục hải quan (tờ khai, hợp đồng, hóa đơn, phiếu đóng gói, chứng nhận xuất xứ C/O). Khi nhập khẩu máy móc, công ty thực hiện theo điều kiện CIF.
Các phát hiện và bất cập được chỉ ra qua nghiên cứu:
- Các thương nhân Việt Nam, bao gồm cả AQUAPEXCO, duy trì thói quen thương mại xuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF. Tập quán này tước đi quyền chủ động thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm hàng hải, làm giảm hiệu quả kinh tế và gia tăng rủi ro trong chuỗi cung ứng.
- Đội ngũ cán bộ doanh nghiệp thiếu chuyên môn sâu về luật thương mại quốc tế, phải phụ thuộc vào việc thuê dịch vụ tư vấn pháp lý bên ngoài khi soạn thảo các đề nghị giao kết phức tạp.
- Điều khoản giải quyết tranh chấp và điều khoản luật áp dụng trong các hợp đồng của công ty thường được thỏa thuận một cách đại khái, thiếu tính khả thi khi có xung đột pháp luật xảy ra.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể:
- Quan điểm hoàn thiện: Bám sát Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; bảo đảm tính tương thích với chuẩn mực của WTO, các hiệp định thương mại tự do và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, giảm thiểu thủ tục hành chính rườm rà.
- Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước:
- Nâng cao chất lượng lập pháp, bảo đảm tính minh bạch, dễ tiếp cận. Khắc phục triệt để tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành. Tác giả dẫn chứng việc Luật Thương mại 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 nhưng Nghị định số 12/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành đến ngày 01/5/2006 mới có hiệu lực, tạo ra khoảng trống pháp lý kéo dài 4 tháng.
- Đơn giản hóa thủ tục thông quan hải quan, tăng cường giám sát nhằm hạn chế tình trạng tiêu cực của cán bộ thực thi gây chậm trễ cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
- Rà soát, điều chỉnh biểu thuế nhập khẩu và danh mục phân loại hàng hóa nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật phục vụ sản xuất.
- Kiến nghị đối với Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh:
- Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật thương mại quốc tế cho cán bộ, nhân viên nghiệp vụ; cử nhân sự tham gia các chương trình đào tạo chuyên sâu về soạn thảo hợp đồng ngoại thương để chủ động công tác pháp chế, giảm chi phí thuê tư vấn ngoài.
- Nghiên cứu kỹ lưỡng các rào cản kỹ thuật và quy định pháp lý của thị trường nhập khẩu (đặc biệt là nguy cơ bị ép giá tại thị trường Mỹ), chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang các khu vực tiềm năng có ít đối thủ cạnh tranh.
- Thay đổi dần tập quán giao dịch, từng bước chuyển sang đàm phán hợp đồng xuất khẩu theo điều kiện CIF và nhập khẩu theo điều kiện FOB nhằm giành quyền kiểm soát chi phí vận chuyển và bảo hiểm.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu:
- Luận văn đã làm rõ sự khác biệt mang tính bản chất giữa Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và CISG 1980 trong việc xác định tiêu chí tính quốc tế của hợp đồng (dịch chuyển qua biên giới đối lập với trụ sở thương mại khác quốc gia) và cơ chế xử lý vi phạm hợp đồng (căn cứ áp dụng chế tài thay thế hàng hóa, chế tài phạt vi phạm).
- Phản ánh trung thực dữ liệu thực tế tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh: vùng nguyên liệu 9.000 ha mặt nước, sản lượng đánh bắt 2.000 - 2.500 tấn/năm, sản phẩm xuất khẩu chủ lực, phương thức đóng gói hai lớp giữ nhiệt của đơn vị bao bì Thành Lương, cùng quy trình giao nhận theo điều kiện FOB - Incoterms 2010.
- Chỉ ra dẫn chứng thực tế về lỗ hổng thời gian ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước (khoảng trống 4 tháng giữa Luật Thương mại 2005 và Nghị định 12/2006/NĐ-CP).
Về đóng góp của đề tài:
- Khắc phục hạn chế của các công trình nghiên cứu đi trước (Nguyễn Thị Tuyết Giang 2008 chỉ tập trung vào luật áp dụng; Nguyễn Uy Pháp 2014 chỉ phân tích CISG thuần túy; Nguyễn Văn Quang 2014 chỉ so sánh lý thuyết chế định giao kết hợp đồng theo CISG và luật Việt Nam mà chưa gắn với thực tiễn áp dụng).
- Kết hợp nghiên cứu lý luận pháp lý với việc mổ xẻ hoạt động thực tế của một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cụ thể trong giai đoạn 2012 - 2015, đưa ra nhóm giải pháp vừa mang tính vĩ mô (hoàn thiện lập pháp, thủ tục hải quan) vừa mang tính vi mô (quản trị rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp địa phương).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Năng lực và thời gian thực tập của tác giả có hạn, khiến phạm vi khảo sát thực tế mới dừng lại ở một đơn vị duy nhất là Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh trong khung thời gian 2012 - 2015.
- Bảng số liệu thống kê giá trị các mặt hàng xuất khẩu của công ty giai đoạn 2013 - 2015 trong văn bản còn khuyết thiếu số liệu chi tiết ở một số chỉ tiêu do hạn chế tiếp cận tài liệu kế toán nội bộ.
- Nghiên cứu chưa mở rộng phân tích án lệ quốc tế và các phán quyết thực tế của Trọng tài VIAC liên quan trực tiếp đến ngành thủy sản.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Văn bản đặt ra mục "Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu", trong đó hướng mở là theo dõi sự biến động của pháp luật hợp đồng khi Việt Nam chính thức tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như TPP và gia nhập Công ước CISG 1980.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua các tổ chức trọng tài quốc tế và vấn đề áp dụng tập quán thương mại, án lệ trong tư pháp Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Kinh doanh quốc tế và Kinh tế đối ngoại tại các cơ sở đào tạo đại học làm tài liệu tham khảo về phương pháp đối chiếu văn bản luật với điều ước quốc tế.
- Cán bộ pháp chế, nhân viên phòng kinh doanh xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp thủy sản và các hiệp hội ngành nghề trong việc nhận diện rủi ro khi đàm phán điều khoản hợp đồng bằng tiếng Anh.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và độ trễ ban hành nghị định hướng dẫn thi hành.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là phần so sánh chi tiết giữa quy định của Luật Thương mại 2005 và CISG 1980 về các chế tài vi phạm hợp đồng, cùng bản mô tả chi tiết quy trình thực tế kiểm tra chứng từ L/C, kiểm soát bao bì và lập hồ sơ hải quan xuất khẩu hàng đông lạnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí xác định tính quốc tế của hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 khác biệt căn bản như thế nào so với Công ước Viên 1980 (CISG)?
Luật Thương mại Việt Nam 2005 căn cứ vào tiêu chí sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia thông qua các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu (Điều 27). Trong khi đó, CISG 1980 (Điều 1) hoàn toàn không xét đến sự dịch chuyển vật lý của hàng hóa qua biên giới mà chỉ căn cứ vào tiêu chí duy nhất là các bên tham gia giao kết có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau.
2. Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh có nguồn gốc hình thành và vùng nguyên liệu sản xuất như thế nào?
Doanh nghiệp tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước thành lập năm 1988, chuyển sang công ty cổ phần từ tháng 4/2005 theo Quyết định số 552/QĐ-CT ngày 16/02/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh. Nguồn nguyên liệu của công ty dựa trên vùng mặt nước nuôi trồng rộng khoảng 9.000 ha tại thị xã Quảng Yên và nguồn cung hải sản từ đội tàu ngư dân với sản lượng khai thác đạt 2.000 - 2.500 tấn/năm.
3. Tác giả chỉ ra bất cập lớn nhất trong thói quen chọn điều kiện cơ sở giao hàng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam là gì?
Bất cập lớn nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước (bao gồm cả AQUAPEXCO) thường xuyên áp dụng thói quen xuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF. Việc này đi ngược lại xu thế tối ưu hóa ngoại thương, khiến doanh nghiệp Việt Nam mất quyền lựa chọn nhà vận tải, không thu được lợi ích kinh tế từ bảo hiểm và đánh mất vị thế chủ động trong chuỗi cung ứng.
4. Dẫn chứng nào trong khóa luận chứng minh cho tình trạng văn bản hướng dẫn thi hành luật bị ban hành chậm trễ?
Tác giả dẫn chứng Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Tuy nhiên, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế mãi đến ngày 23/01/2006 mới được thông qua và phải tới ngày 01/5/2006 mới có hiệu lực thi hành. Khoảng thời gian từ 01/01/2006 đến 01/5/2006 hoàn toàn thiếu văn bản hướng dẫn trực tiếp.
5. Khi xuất khẩu mặt hàng thủy sản, AQUAPEXCO có phải thực hiện thủ tục xin giấy phép xuất khẩu theo quy định pháp luật Việt Nam hay không?
Không. Căn cứ theo Điều 31 Thông tư số 88/2011/TT-BNNPTNT ngày 28/12/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các mặt hàng thủy sản chế biến của công ty không nằm trong Danh mục các loài thủy sản cấm xuất khẩu (Phụ lục 01) hoặc xuất khẩu có điều kiện (Phụ lục 02), do đó doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép xuất khẩu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã làm rõ hệ thống lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đồng thời đặt ra sự đối chiếu cần thiết giữa Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và Công ước Viên 1980 (CISG). Thông qua việc khảo sát trường hợp cụ thể tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh trong giai đoạn 2012 - 2015, đề tài đã chỉ ra những tồn tại đặc thù của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản như việc áp dụng tập quán giao nhận FOB/CIF thụ động, rào cản chi phí dịch thuật hợp đồng và việc thiếu hụt nhân sự pháp lý chuyên trách. Các giải pháp được đề xuất từ cấp độ hoàn thiện lập pháp của Nhà nước đến điều chỉnh tổ chức nội bộ của doanh nghiệp mang lại giá trị thực tiễn đối với hoạt động ngoại thương trong giai đoạn hội nhập.