Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại Đại lý thương mại 1.1 Khái niệm Đại lý thương mại Mô hình đại lý thương mại được sử dụng phổ biến hơn khi nhu cầu mua bán hàng hóa của các nhà sản xuất từ quy mô nhà máy, xí nghiệp đến các công ty, tập đoàn lớn đòi hỏi nguồn cung nguyên, nhiên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ổn định và có hệ thống. Ngoài ra, trong các lĩnh vực vận tải đường biển, bảo hiểm, nông nghiệp cũng xuất hiện các đại lý tàu biển, đại lý bảo hiểm, đại lý thu mua nông sản…. Dưới giác độ pháp lý, hiện tượng thương nhân nhận ủy quyền của người khác để tiến hành các hoạt động vì lợi ích của bên ủy quyền để mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thương mại được pháp luật một số nước khái quát bằng khái niệm “trung gian tiêu thụ” hoặc “đại diện thương mại”.
So với pháp luật của nhiều nước trong việc xác định các hình thức hoạt động trung gian thương mại, pháp luật Việt Nam ngoài việc quy định ba hình thức hoạt động trung gian thương mại là đại diện, ủy thác và môi giới, Luật thương mại 2005 của Việt Nam còn quy định thêm một hình thức là đại lý thương mại. Điều này đồng nghĩa với việc khó để tìm thấy khái niệm tương ứng và chuẩn xác về loại hình đại lý thương mại của pháp luật Việt Nam trên thế giới. Khi dịch ra tiếng Anh, mặc dù mang bản chất khác hoàn toàn với hoạt động agency (đại diện thương mại theo luật của các nước nhân danh bên giao đại diện để quan hệ với bên thứ ba trong phạm vi ủy quyền, còn bên đại lý nhân danh chính mình để quan hệ với bên thứ ba theo yêu cầu của bên giao đại lý) nhưng thuật ngữ đại lý thương mại vẫn được dịch là commercial agency. Do đó, khi nghiên cứu các khía cạnh pháp lý liên quan đến đại lý thương mại và hợp đồng đại lý (HĐĐL) ở luận văn này, chúng tôi đề cập tới khái niệm và bản chất pháp lý của đại lý thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với các hình thức đại diện nói chung và đặc biệt là đại diện thương mại (agency) và ủy thác thương mại.
Ở Việt Nam, khái niệm hoạt động trung gian thương mại được hiểu là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thươngnhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại” (Khoản 11 Điều 3 Luật thương mại 2005). Như vậy, với tính chất là một loại hình hoạt động trung gian thương mại, khái niệm “đại lý thương mại” được ghi nhận tại Điều 166 Luật thương mại 2005 như sau: SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương 8 Lớp: K49p3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: THS. Trần Ngọc Diệp “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”. Định nghĩa đại lý thương mại theo Luật thương mại 2005 đã thể hiện rõ đại lý thương mại là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức thuê và nhận làm dịch vụ mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ trong đó bên giao đại lý là bên có nhu cầu mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nhưng không trực tiếp thực hiện công việc này mà giao cho một bên khác (bên đại lý) thay mặt mình mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ hộ mình.
Đại lý thương mại là khái niệm có ngoại diên bao gồm nhiều đại lý trong nhiều lĩnh vực như đại lý mua bán hàng hoá, đại lý cung ứng các loại dịch vụ bảo hiểm, quảng cáo, du lịch, vận tải, bưu chính, viễn thông…do vậy, tại các luật chuyên ngành có những định nghĩa khác nhau về khái niệm đại lý, ví dụ: Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định: “Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền trên cơ sở lập hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Bộ Luật Hàng hải Việt Nam định nghĩa đại lý tàu biển là dịch vụ mà người đại lý tàu biển nhân danh chủ tàu hoặc người khai thác tàu tiến hành các dịch vụ liên quan đến tàu biển hoạt động tại cảng. Qua khái niệm của Luật, có thể thấy khi thực hiện hoạt động, bên đại lý là chủ thể trung gian nhân danh chính mình để mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ với bên thứ ba, vì lợi ích của bên giao đại lý và được hưởng thù lao. Do đó, trong hoạt động đại lý thương mại tồn tại hai nhóm quan hệ: quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý; quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba.
Theo quy định của Luật thương mại 2005, đại lý thương mại có phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm hoạt động đại lý được thực hiện trong nhiều lĩnh vực hoạt động thương mại đó là: mua bán hàng hoá cho bên giao đại lý và các hoạt động đại lý cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho bên thứ ba như đại lý bảo hiểm, đại lý du lịch lữ hành…Như vậy, Luật thương mại 2005 đã mở rộng phạm vi hoạt động đại lý chứ không bó hẹp ở hoạt động đại lý mua bán hàng hoá như quy định tại Luật thương mại 1997. Mặt khác, phạm vi của hoạt động đại lý mua bán hàng hoá được mở rộng hơn so với Luật thương mại 1997, bởi khái niệm hàng hoá trong Luật thương mại 2005 cũng đã mở rộng, theo đó đại lý mua bán hàng hoá không chỉ giới hạn ở hoạt động đại lý mua bán máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán, mà bao gồm hoạt động đại lý mua bán các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Nguyên nhân của sự thay đổi này bắt nguồn từ sự chuyển biến của nền kinh tế đất nước ta sang nền kinh tế thị trường từ sau Đại hổi SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương 9 Lớp: K49p3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: THS. Trần Ngọc Diệp Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986.
Luật thương mại 1997 ra đời quy định cơ bản về hoạt động đại ý và một số hoạt động trung gian thương mại khác, tuy nhiên sau hơn 7 năm thi hành Luật thương mại 1997 đã bộc lộ nhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thương mại trong nước bắt nhịp cùng thương mại quốc tế. Đại lý cung cấp dịch vụ là trung gian thương mại dịch vụ, theo đó một thương nhân nhân danh chính mình để cung cấp dịch vụ cho nhà cung cấp dịch vụ đến với khách hàng. Đây là hành vi trung gian rất phổ biến trong thương mại dịch vụ, được xem như cánh tay nối dài của nhà cung cấp dịch vụ đến cho khách hàng. Với tính chất của dịch vụ là vô hình, không lưu kho bãi, quá trình cung cấp dịch vụ diễn ra đồng thời, nên đại lý trong thương mại dịch vụ là trung gian giúp nhà cấp dịch vụ cung ứng dịch vụ cho người sử dụng dịch vụ, điều này khác với đại lý trong thương mại hàng hóa luôn gồm đại lý mua hàng và đại lý bán hàng.
Đại lý bảo hiểm, đại lý du lịch lữ hành, địa lý dịch vụ bưu chính, đại lý dịch vụ viễn thông, đại lý làm thủ tục hải quan, đại lý xăng dầu, đại lý sổ xố…Ứng với mỗi loại hình dịch vụ, pháp luật chuyên ngành quy định khác nhau về cách thức thực hiện hành vi đại lý cung cấp dịch vụ. Thương mại hàng hóa và dịch vụ càng phát triển, vai trò của trung gian thương mại càng được coi trọng vì nó hỗ trợ đắc lực cho thương nhân trong khâu phân phối, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ được nhanh chóng, ít rủi ro, chi phí thấp và dễ dàng gia nhập hoặc từ bỏ thị trường. Đại lý, đại diện hay ủy thác được quy định khác nhau ở mỗi nước tuy nhiên hầu hết pháp luật các nước đều thừa nhận về bản chất, chúng đều là hành vi thương mại được thực hiện qua trung gian. Theo đó, người thụ ủy thực hiện công việc mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ vì lợi ích của bên chủ ủy để nhận thù lao theo thỏa thuận.
Mang bản chất của hoạt động trung gian nhưng đặt chúng trong mối liên hệ giữa người chủ ủy và người thụ ủy, giữa người thụ ủy và bên thứ ba cho thấy, các loại hình trung gian thương mại này không đồng nhất. Là một dạng hoạt động trung gian thương mại nhưng khái niệm đại lý thương mại ở Việt Nam có sự khác biệt và đặc thù so với các hình thức trung gian thương mại trong pháp luật các nước. Vì vậy, để có cái nhìn toàn diện, luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể các đặc điểm của đại lý thương mại.2 Một số đặc điểm của đại lý thương mại 1.1 Đặc điểm Là một loại hình hoạt động trung gian thương mại theo luật thương mại của Việt Nam, do đó đại lý thương mại trước hết mang những đặc điểm chung của trung gian thương mại. Nói đến đặc điểm của đại lý thương mại, ta sẽ xem xét đặc điểm pháp lý của trung gian thương mại.
Chế định trung gian thương mại ở các nước không hoàn SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương 10 Lớp: K49p3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: THS. Trần Ngọc Diệp toàn giống nhau do sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị và truyền thống lập pháp. Ở Việt Nam, Luật thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại, đó là cơ sở pháp lý để xác định các hoạt động đại diện chi thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.