Luận văn pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thực tiễn áp dụng tại tổng công ty may 10 ctcp

Luận văn phân tích pháp luật giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, áp dụng thực tiễn tại Tổng công ty May 10 CTCP.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

56
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật điều chỉnh

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một công cụ pháp lý quan trọng trong thương mại quốc tế, được điều chỉnh bởi pháp luật hợp đồng và các quy định pháp luật quốc tế. Hợp đồng này không chỉ xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên mà còn đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch. Luật thương mại quốc tế và các điều ước quốc tế như Công ước Viên 1980 là nền tảng pháp lý chính. Việc hiểu rõ các nguyên tắc giao kết hợp đồngthực hiện hợp đồng là yếu tố then chốt để tránh tranh chấp.

1.1. Khái niệm và đặc điểm

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Đặc điểm chính của loại hợp đồng này là tính quốc tế, thể hiện qua việc hàng hóa được dịch chuyển qua biên giới. Các điều khoản hợp đồng phải tuân thủ luật thương mại quốc tếquy định pháp luật của các quốc gia liên quan. Việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ các bên là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả của hợp đồng.

1.2. Nguồn luật điều chỉnh

Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm luật quốc gia, điều ước quốc tế, và tập quán thương mại quốc tế. Công ước Viên 1980 là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất, quy định chi tiết về giao kết hợp đồngthực hiện hợp đồng. Việc áp dụng các nguồn luật này giúp giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách công bằng và hiệu quả.

II. Giao kết và thực hiện hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thực hiện trực tiếp, gián tiếp hoặc qua thương mại điện tử. Quá trình này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về hình thức và nội dung hợp đồng. Thực hiện hợp đồng bao gồm các bước như giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu, và thanh toán. Việc vi phạm hợp đồng có thể dẫn đến các trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc.

2.1. Quy trình giao kết hợp đồng

Quy trình giao kết hợp đồng bao gồm đàm phán, thỏa thuận, và ký kết hợp đồng. Các bên phải đảm bảo rằng các điều khoản hợp đồng được thống nhất và tuân thủ pháp luật hợp đồng. Việc sử dụng các phương thức giao kết hiện đại như thương mại điện tử cũng cần tuân thủ các quy định pháp luật cụ thể.

2.2. Thực hiện và giải quyết tranh chấp

Thực hiện hợp đồng đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản đã thỏa thuận. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, các bên có thể sử dụng các biện pháp như đàm phán, hòa giải, hoặc khởi kiện tại tòa án. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi của các bên.

III. Thực trạng áp dụng tại Tổng công ty May 10

Tổng công ty May 10 là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực may mặc, thường xuyên tham gia vào các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng tại công ty cho thấy cả những thành công và thách thức. Việc tuân thủ các quy định pháp luậtđiều khoản hợp đồng là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của các giao dịch quốc tế.

3.1. Thực tiễn giao kết và thực hiện

Tại Tổng công ty May 10, quy trình giao kết hợp đồng được thực hiện một cách chuyên nghiệp, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng đôi khi gặp phải những khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và pháp luật giữa các quốc gia. Công ty cần tiếp tục cải thiện quy trình để nâng cao hiệu quả.

3.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật và phê chuẩn các điều ước quốc tế. Tổng công ty May 10 cũng cần nâng cao năng lực đàm phán và thực hiện hợp đồng để đối phó với các thách thức pháp lý và thương mại quốc tế.

13/02/2025
Luận văn pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thực tiễn áp dụng tại tổng công ty may 10 ctcp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1. Hợp đồng Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) có nghĩa là ràng buộc, xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V – IV trước công nguyên. Sau khi đế quốc La Mã tan rã, các nước châu Âu đã chấp nhận dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ La Mã.

Xuất phát từ thuật ngữ “contractus”, trong tiếng Anh thuật ngữ này được gọi là “contract”, trong tiếng Pháp là “contrat”, tiếng Nga là “kontrakt”… Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến thuật ngữ này có thể gọi là “khế ước” và đến ngày nay từ “hợp đồng” đã trở nên gần gũi hơn sau quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước ta.[1] Về khái niệm hợp đồng, cũng có nhiều quan điểm khác nhau theo thời gian. Theo Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới (Bộ luật dân sự Pháp năm 1804) thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc” hoặc theo Bộ luật dân sự Liên bang Nga năm 1994: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”… Với Việt Nam, nếu như trước đây khái niệm “khế ước” còn chưa để lại nhiều dấu ấn thì sau khi cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm “hợp đồng” đã thực sự thể hiện được vị trí của nó trong đời sống xã hội. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, có thể định nghĩa hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.

Hợp đồng mua bán hàng hóa Trước hết, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.[2] Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa. 1[?] Theo Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.38 2[?] Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005 6 Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Luật thương mại nước ta không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Hàng hóa được hiểu là động sản cho nên hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận và là hợp đồng song vụ có tính đền bù.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế như sau: Điều 1 Công ước La Haye năm 1964 (Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau”. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” [3]. Khác với Công ước La Hye năm 1964, các yếu tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc dịch chuyển qua biên giới đối với đối tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập tới.

Công ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được xác định bởi yếu tố duy nhất là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Theo đó, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí 3[?] Căn cứ Điều 1 Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 7 giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Ngoài các công ước quôc tế, với hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật Pháp việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa được căn cứ vào tiêu chí kinh tế hoặc pháp lý.

Về tiêu chí kinh tế, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế khi nó tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán [4]. Còn ở Việt Nam, căn cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu[5]; qua đó gián tiếp bác bỏ quốc tịch khi xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Như vậy, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế.4 Giao kết hợp đồng MBHHQT Giao kết hợp đồng dân sự là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác định quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 389 luật dân sự quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự). Giao kết hợp đồng MBHHQT là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các chủ thể là thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác định quyền và nghĩa vụ dân sự.5 Thực hiện hợp đồng MBHHQT Hợp đồng giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên. Thực hiện hợp đồng là thực hiện những quyền và nghĩa vụ đã phát sinh trong hợp đồng. Thông thường với các loại hợp đồng dân sự thì quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.

Vì vậy thực hiện nghĩa vụ của bên này là đảm bảo quyền của bên kia. Đề đảm bảo quyền của các bên giao kết hợp đồng, BLDS 2005 đã nêu một số nguyên tắc cơ bản cho việc thực hiện 4[?] Theo Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr.16 5[?] Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 8 hợp đồng tại điều 412, đó là các nguyên tắc: Một là, nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng, bao gồm thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức thực hiện và các thỏa thuận khác mà các bên đã cam kết. Việc thực hiện không đúng hợp đồng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng, là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia. Hai là, nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên đảm bảo tin cậy lẫn nhau.

Nguyên tắc này có ý nghĩa nhằm ngăn chặn sự tối nghĩa trong hợp đồng để làm lợi cho một bên. Việc thực hiện hợp đồng không chỉ đòi hỏi sự trung thực của các bên mà còn cần đến tinh thần hợp tác giúp đỡ, tin cậy lẫn nhau. Nhằm đảm bảo hợp đồng thực hiện một cách thuận lợi nhất, tạo lợi ích lớn nhất cho các bên. Ba là, nguyên tắc thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác.

Mặc dù cho phép các chủ thể tự do tham gia quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng, pháp luật quy định nguyên tắc này nhằm giới hạn sự tự do của các chủ thể khi thực hiện hợp đồng nhằm kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong xã hội. Thực hiện hợp đồng MBHHQT là thực hiện quyền và nghĩa vụ đã được phát sinh trong hợp đồng MBHHQT. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.2 Đặc điểm cúa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế - Áp dụng tại Tổng công ty May 10 CTCP" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn nêu rõ những thách thức và giải pháp trong thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty May 10. Độc giả sẽ nhận được những kiến thức quý giá về cách thức đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế so sánh với pháp luật CHDCND Lào và giải pháp hoàn thiện, nơi bạn sẽ tìm thấy sự so sánh giữa các hệ thống pháp luật khác nhau. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam thực trạng và giải pháp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý tại Việt Nam. Cuối cùng, tài liệu Luận văn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp tỉnh Nghệ An sẽ cung cấp thêm thông tin về thực tiễn áp dụng tại một địa phương cụ thể. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao kỹ năng trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.