đặt vấn đề xác định điều kiện có hiệu lực của HĐLĐ để từ đó có cơ sở xác định hợp đồng có hiệu lực pháp luật hay bị vô hiệu đã chi ra được các căn cứ xác định HDLD vô hiệu, song vẫn chưa làm sáng to ban chất của HDLD vô hiệu. Theo từ điển Tiếng Việt, "vô hiệu" có nghĩa là không có hiệu lực pháp luật [8-tr1122]. Như vậy, HĐLĐ vô hiệu có thể hiểu là HDLD không có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác, khi HDLD trong tình trạng vô hiệu sẽ đồng nghĩa với việc không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xuất phát từ đặc thù của từng quan hệ xã hội, pháp luật quy định hình thức pháp lý cụ thể để xác lập quan hệ đó. Đối với quan hệ lao động, hình thức pháp lý đó là HDLD. Để tạo lập, thực hiện và duy trì quan hệ lao động, NSDLD và NLD phải dam bảo những yêu cầu pháp lý nhất định đặt ra đối với HDLD. Vi dụ vấn đề nguyên tắc giao kết, chủ thể và nội dung của hợp đồng.
Nếu không, sự tồn tại của HDLD là trái pháp luật và đến mức độ không thể chấp nhận được sự tồn tại đó, HĐLĐ bị coi là vô hiệu. Nhu vậy, HĐLĐ vô hiệu có thể hiểu một cách khái quát là HDLD đã được xác lập nhưng không có hiệu lực pháp luật. Ngay cả khi hợp đồng đã tồn tại một khoảng thời gian nào đó, thậm chí nó đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, thì vẫn có thể bị vô hiệu. Nói cách khác, HDLD được giao kết và thực hiện theo ý chí của các bên nhưng nó không phù hợp với ý chí của Nhà nước (trái pháp luật), nên không được phép tồn tại, không có giá trị ràng buộc các bên.
Về nguyên tắc, HDLD vô hiệu không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên đối với nhau. Tóm lại, HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng có chứa đựng các yếu tốkhông đáp ứng được yêu cầu của pháp luật đảm bảo cho hợp đông phát sinh hiệu lực pháp luật, nên không có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên NLD và NSDLĐ kể từ thời điểm xác lập. Nói cách khác, những gì mà các bên đã thoả thuận, cam kết không có -12- giá trị thực hiện, các bên không thể dựa vào pháp luật để buộc thực hiện chúng, do không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nhu vậy, khái niệm HDLD vô hiệu khác với khái nệm HDLD mất hiệu lực hoặc bị chấm dứt hiệu lực.
Hợp đồng mất hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực pháp luật vào thời điểm xác lập và sau đó rơi vào tình trạng mất hiệu lực. Hợp đồng bị chấm dứt hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực cho đến thời điểm bị chấm dứt hiệu lực. Ý nghĩa của hợp đông lao động vô hiệu. Tự do ý chí là yếu tố thuộc về ban chất của quan hệ hợp đồng.
Đó cũng là quyền được pháp luật thừa nhận và bảo vệ khi các bên tham gia xác lập quan hệ. Vì thế, bất cứ sự ép buộc, lừa dối hay cưỡng bức nhằm buộc bên kia giao kết hợp đồng, trong đó có HĐLĐ đều không được thừa nhận. Nhà nước, một mặt thừa nhận và bảo vệ sự tự do ý chí cho các bên, mặt khác cũng đòi hỏi các bên phải tôn trọng trật tự xã hội mà Nhà nước đặt ra (vì lợi ích chung của toàn xã hội). Nói cách khác, sự tự do ý chí không thể là sự tự do tuyệt đối mà phải đảm bảo phù hợp với trật tự pháp lý của Nhà nước.
Điều đó không có nghĩa Nhà nước có hành động bất hợp pháp khi can thiệp vào sự tự do đó, mà là để giới hạn nó nhằm đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa cá nhân chủ thể với lợi ích chung của toàn xã hội. Như vậy, khi Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên thì Nhà nước cũng đòi hỏi ý chí của các bên cũng phải phù hợp với ý chí của Nhà nước. Nếu đi ngược lại, các bên phải trả giá. Theo đó, Nhà nước bằng pháp luật đưa các cam kết giữa các bên quay trở lại tinh trạng ban đầu.
Việc xử lý HDLD vô hiệu là một biện pháp giới hạn sự tự do hợp đồng, và là cơ sở pháp lý để Nhà nước can thiệp vào quan hệ giữa các bên làm vô hiệu hóa các hợp đồng không tuân thủ các yêu cầu của pháp luật, không thể hiện ý chí đích thực của các bên và không thể hiện bản chất vốn có của hợp đồng. Như vậy sẽ đảm bảo hài hòa quyền, lợi ích chính đáng của các bên với lợi ích chung của xã hội. Phân loại hợp đồng lao động vô hiệu va điều kiện để xác định hop đồng lao động vô hiệu. Phân loại Hợp đồng lao động vô hiệu.
Từ trước đến nay, chưa có cách phân loại thống nhất và được thừa nhận là chính thống về trường hợp vô hiệu của hợp đồng nói chung. Tuy nhiên, việc phân loại HDLD vô hiệu có thể theo các cách sau: - Dựa vào mức độ hoặc phạm vi vô hiệu, có hai loại là HDLD vô hiệu toàn bộ và HDLD vô hiệu từng phần. HDLD vô hiệu toàn bộ: HDLD bị coi là vô hiệu toàn bộ khi các yêu cầu của pháp luật không được tuân thủ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia quan hệ hoặc lợi ích chung của xã hội đến mức không thể để hợp đồng đó làm phát sinh quyên và nghĩa vụ giữa hai bên [8- tr53]. HDLD vô hiệu từng phần: khi hợp đồng có một hoặc một số nội dung vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các nội dung còn lại trong hợp đồng.
Như vậy, HĐLĐ vô hiệu toàn bộ và từng phần được xác định mức độ ảnh hưởng của nội dung vô hiệu đối với quyền và lợi ích của hai bên hoặc lợi ích chung của xã hội. Về nguyên tắc, HDLD vô hiệu không làm phát sinh hiệu lực pháp luật, nhưng theo cách phân loại nói trên, đối với HDLD vô hiệu từng phan, các phần nội dung không bị vô hiệu vẫn được thừa nhận và có giá trị về mặt pháp lý. Phân biệt HDLD vô hiệu toàn bộ và từng phần có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Đó là cơ sở giúp chúng ta nhận thức đúng đắn bản chất và nội dung của sự vô hiệu, để từ đó có cách xử lý hợp đồng vô hiệu hợp lý và công bằng.
- Dựa trên căn cứ vô hiệu của HDLD có các loại HDLD vô hiệu: HDLD vô hiệu về nội dung, HDLD vô hiệu về hình thức, HDLD vô hiệu về chủ thể, HDLD vô hiệu do vi phạm trình tự, thủ tục giao kết. -14- Hợp đồng lao động vô hiệu về nội dung khi hợp đồng có điều khoản cam kết trái pháp luật. Hợp đồng lao động vô hiệu về hình thức là HDLD vi phạm các hình thức của hợp đồng đã được pháp luật quy định. Hợp đồng lao động vô hiệu về chủ thể khi một trong các bên giao kết không có năng lực chủ thể (người tâm thần, NLD chưa đủ 15 tuổi mà không được cha mẹ, người đại diện đồng ý, người ký kết HDLD mà không được NSDLD ủy quyền bang văn bản `).
Phân biệt các loại HDLD vô hiệu như trên giúp chúng ta có căn cứ xác định HDLD vô hiệu, xác định phương thức hop ly để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia quan hệ. Điều kiện đểxác định hợp đông lao động vô hiệu. Điều kiện để xác định HDLD vô hiệu là các căn cứ mà dựa vào đó chúng ta xác định một HDLD không có giá tri pháp lý. Xuất phát từ mục đích của việc bảo vệ và mức độ can thiệp của Nhà nước đối với quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ lao động, pháp luật của các nước quy định điều kiện để xác định một HDLD vô hiệu là có sự khác nhau nhất định.
Ở Mỹ, án lệ được coi là nguồn của pháp luật. Do vậy, Hiến pháp và các văn bản Luật dé cập đến vấn đề vô hiệu của HĐLĐ chỉ mang tính nguyên tắc. "Từng phần của hợp đồng sẽ không có giá trị thi hành nếu như nó được giao kết bởi sự giả mạo hoặc điều kiện làm việc không đáp ứng yêu cầu, nguy hiểm cho an toàn sức khỏe cua NLD trong quá trình thực hiện hợp đồng". Như vậy, việc xác định sự vô hiệu của HĐLĐ được dựa trên căn cứ hành vi giả mạo, lừa dối của chủ thể, điều kiện làm việc của NLD không được đảm bảo.
Ở Nhật Bản, pháp luật quy định cụ thể hơn các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu. -15- Thứ nhất, điều kiện có tính nguyên tắc là HDLD mâu thuẫn với pháp luật và hợp đồng tập thể thì không có giá trị pháp lý (Điều 13, 14 Luật Tiêu chuẩn lao động) [9-tr320], [10-tr322]. Thứ hai, hợp đồng vi phạm thời hạn của hợp đồng. Luật Tiêu chuẩn lao động quy định thời hạn của HDLD là 1 năm, nếu thời hạn kéo dài hơn thi HDLD bi coi là vô hiệu trừ một số trường hop cần thiết [ 11-tr615].
Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do vi phạm mức tiền lương tối thiểu theo quy định của pháp luật. Nếu tiền lương thỏa thuận giữa NSDLD va NLD mà thấp hơn lương tối thiểu được quy định trong Luật thì hợp đồng vô hiệu (Điều 5 Luật Lương tối thiểu). Bên cạnh đó, các điều khoản về điều kiện lao động hoặc liên quan đến các vấn đề khác có ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ mà trái với thỏa ước tập thể cũng là căn cứ để xác định hợp đồng vô hiệu. Có thể nói, điều kiện xác định HĐLĐ vô hiệu ở Nhật Bản thể hiện tính cụ thể va day đủ hơn, chỉ rõ các trường hợp vô hiệu của HĐLĐ.
Tuy nhiên, một số trường hợp vi phạm khác thì không thấy pháp luật đề cập, chẳng hạn trường hợp HDLD vi phạm quy định về chủ thể, nguyên tắc giao kết. Ở Đức, pháp luật lao động không có một chế định HĐLĐ riêng. Các quy định này nằm rải rác ở các văn bản (khác với ở nước ta, ở Đức chưa có BLLĐ). Do coi Bộ luật Dân sự là Luật gốc, nên nhiều quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng đối với HDLD, ví dụ quy định về giao kết hợp đồng, về điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực.
Vấn dé HDLD vô hiệu không được quy định hoàn toàn hoặc cu thể trong pháp luật (pháp luật lao động hoặc Bộ luật Dân sự).