Chương 1. Một số van dé chung về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động và pháp luật về vấn đề này. Thực trang các quy định về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu qua thực hiện pháp luật về giải quyết quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
MOT SO VAN DE CHUNG VE QUYEN LỢI CUA NGUOI LAO DONG KHI CHAM DUT HOP DONG LAO DONG VA PHAP LUAT VE VAN DE NAY 1. Khái niệm quyền lợi của người lao động khi cham dứt hợp đồng lao động Hop đồng lao động trải qua các giai đoạn giao kết, thực hiện, sửa đổi, bố sung và khi hai bên chủ thé không thé tiếp tục thực hiện hop đồng được nữa, hoặc do lý do khác, hợp đồng lao động sẽ chấm dứt. Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp (2006), “cham ditt hop đồng lao động là sự kết thúc quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động và không còn sự kiện phát sinh quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động”. Đây là sự kiện pháp lý dẫn đến sự chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà người lao động và người sử dụng lao động đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Chấm dứt hợp đồng lao động tác động trực tiếp đến quyền lợi của cả hai bên trong quan hệ lao động. Đối với người lao động, việc cham dứt hợp đồng lao động sẽ ảnh hưởng đến việc làm, nguồn thu nhập, cuộc sống của chính họ và gia đình. Về phía người sử dụng lao động, sự kiện chấm dứt hợp đồng lao động cũng có thể gây xáo trộn lao động trong nội bộ người sử dụng lao động, đặc biệt trong trường hợp cham dứt hợp đồng lao động với nhiều người lao động và có thé gây thiệt hại cho người sử dụng lao động. Nhu vậy, có thé hiểu, cham ditt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Chấm dứt hợp đồng lao động có các đặc điêm như sau: — __ Thứ nhất, chấm dứt hợp đồng lao động là cham dứt sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Hop đồng lao động bao gồm các nội dung mà hai bên thỏa thuận với quyền và nghĩa vụ cụ thé phát sinh trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên có trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc các nội dung đã thỏa thuận. Tuy nhiên, khi hợp đồng lao động chấm dút, sự ràng buộc giữa hai bên về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động đã giao kết cũng không còn nữa.
— __ Thứ hai, chấm dứt hợp đồng lao động có thé hợp pháp hoặc bat hợp pháp. Chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp là trường hợp các bên chủ thé trong quan hệ lao động thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động đảm bảo các quy định của pháp luật về căn cứ, thủ tục chấm dứt hợp đồng. Chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do vi phạm các quy định của pháp luật về căn cứ hoặc thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động. Trong quan hệ lao động, xuất phát từ những mục đích khác nhau mà các bên có thé không quan tâm đến quyền và lợi ích của bên kia.
Do đó, pháp luật đã quy định các trường hợp cham dứt hợp đồng lao động khá chặt chẽ nhằm dung hòa quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động. — _ Thứ ba, chấm dứt hợp đồng lao động tạo ra những hậu quả pháp ly đa dạng. Việc chấm dứt hợp đồng lao động trong bất kỳ điều kiện nào cũng làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định và những hậu quả này lại không hoàn toàn giống nhau mà phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến sự chấm dứt hợp đồng lao động. Chăng hạn như, chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp có hậu quả pháp lý khác với chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, ngay cả trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp thì hậu quả pháp lý đối với người lao động và người sử dụng lao động cũng có sự khác nhau.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp, “quyền lợi” được hiểu là “quyền được hưởng những lợi ích về chính trị, xã hội, vật chất hoặc tinh thần do kết quả lao động của bản thân tạo nên hoặc do phúc lợi chung do nhà nước, xã hội hoặc tập thể cơ quan, tổ chức nơi mình sinh sống, làm việc mang lại”. Đặt trong quan hệ lao động, quyền lợi của người lao động có thé được hiểu là những lợi ích về vật chất hoặc tinh than mà người lao động được hưởng do quá trình tham gia vào quan hệ lao động. Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động đều hướng đến mục đích cuối cùng là lợi ích kinh tế. Dé đạt được mục tiêu nay, mỗi chủ thé phải xử sự phù hợp với bên còn lại nhằm dung hòa và điều tiết quan hệ bởi tương quan về lợi ích giữa họ có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tuy nhiên, trong thực tế, rất nhiều trường hợp, những lợi ích kinh tế khiến người lao động và người sử dụng lao động đặt nhau trước sự đối trọng quyết liệt. Bên cạnh lợi ích trực tiếp của các chủ thể trong quan hệ lao động, không thé không tính đến lợi ích của một chủ thé thứ ba — lợi ích Nhà nước. Trong quan hệ lao động, Nhà nước không phải là một bên của quan hệ này nhưng lực lượng lao động là nguồn nhân lực, là tài nguyên của quốc gia. Do đó, bất cứ Nhà nước nào cũng có những biện pháp nhất định tác động vào quan hệ lao động nhằm điều hòa và sử dụng nhân lực một cách cân đối, có hiệu quả giữa các vùng, ngành kinh tế quốc dân và trên phạm vi toàn quốc.
Do đó, quyền lợi của các chủ thé trong quan hệ lao động nằm trong tương quan với lợi ích của Nhà nước. Khi hợp đồng lao động chấm dứt, quyền lợi của các bên đều có thé bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với người lao động bởi trong quan hệ lao động với đối tượng trao đôi, mua bán là sức lao động, người lao động là bên phụ thuộc nhiều hơn vào người sử dụng lao động. Như vậy, có thé ' Viện khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp (2006), Tir điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 10 hiểu quyén lợi của người lao động khi cham ditt hop dong lao động là những lợi ích về vật chất hoặc tinh than mà người lao động được hưởng khi quan hệ hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động kết thúc.
Các quyền lợi này rat da dang và tùy thuộc vào mỗi trường hợp cham dứt hợp đồng lao động mà có sự khác nhau, tuy nhiên, có thé kế đến một số quyền lợi như: trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp, bồi thường thiệt hại, hỗ trợ dịch vụ việc làm. Từ những nội dung đã phân tích ké trên, có thé đưa ra đặc điểm về các quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau: — _ Quyền lợi của người lao động khi cham dứt hợp đồng lao động rất đa dạng, bao gồm nhiều lợi ích nhưng tùy từng trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà người lao động được hưởng những lợi ích khác nhau. — _ Quyền lợi của người lao động khi cham dứt hợp đồng lao động có mỗi tương quan chặt chẽ với quyền lợi của người sử dụng lao động bởi đây là hai chủ thê trực tiếp và mang tính đối lập nhau trong quan hệ lao động. Quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia, do đó, khi xem xét quyền lợi của người lao động cần đối chiếu và lý giải trong mối quan hệ với nghĩa vụ của người sử dụng lao động.
— __ Quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động còn chịu sự tác động, chi phối bởi lợi ích Nhà nước và xã hội với vai trò điều tiết và cân bằng các quan hệ trong thị trường. Sự cần thiết của việc đảm bảo quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động Khi tham gia vào quan hệ lao động, các bên đều hướng tới những lợi ích nhất định của riêng mình. Đối với người lao động đó là thu nhập, còn đôi với người sử dụng lao động đó là những khoản lợi nhuận mà ho thu được khi bỏ ra các chi phí dau vào cua quá trình sản xuât. Khi những 11 mục tiêu đó không đạt được hoặc buộc phải chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của bên thứ ba hoặc do sự kiện pháp lý nhất định thì việc duy trì hợp đồng lao động đã ký kết không còn ý nghĩa và không đem lại quyền lợi cho các bên.
Lúc này, điều các chủ thể quan tâm hàng đầu là giải quyết hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng, là những quyền lợi mà mỗi bên đạt được khi hợp đồng lao động chấm dứt. Người lao động mong muốn được hưởng các khoản trợ cấp với mức trợ cấp cao nhất, được nhiều chế độ ưu đãi còn ngược lại, người sử dụng lao động hy vọng không phải hỗ trợ, bồi thường cho người lao động bất kỳ khoản nào. Điều này dẫn đến sự đối lập về quyền lợi giữa hai bên và người lao động ~ với vị thé là bên chịu phụ thuộc cần một cơ chế đảm bảo quyền lợi của mình trong tương quan quan hệ với người sử dụng lao động. Hỗ tro, đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình Trong cuộc sống hiện đại, khi mà dân số gia tăng với tốc độ nhanh, số người trong độ tuổi lao động ngày càng nhiều nhưng nhu cầu sử dụng lao động lại không tăng tương ứng, giải quyết việc làm trở thành vấn đề nhức nhối của mọi quốc gia.
Thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho thấy, số người thất nghiệp trong năm 2015 ở mức khoảng 197 triệu người, cao hơn 27 triệu người so với thời kỳ trước khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Hết năm 2016, số người thất nghiệp được dự báo tăng thêm 2,3 triệu người”.