Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG I. QUYEN QUAN LÝ LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG 1. Khái niệm a) Quan lý lao động Đối với mỗi con người, lao động được coi là hoạt động quan trọng nhất, nhằm tác động, biến đối những vật thể tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tỉnh thần trong đời sống hàng ngày. Đối với xã hội, lao động là điều kiện tất yếu, cơ bản tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để xã hội tổn tại và phát triển.
Dù đối với mỗi con người cụ thể hay đối với nhiều người trong phạm vi xã hội, lao động luốn được diễn ra theo một quy trình, trong đó bao gồm những hoạt động chân tay và trí óc của con người để hoàn thành nhiệm vụ, công việc nhất định. Trong thực tế, con người không thực hiện các hoạt động lao động một cách đơn le, tach rời mà họ thường liên kết với nhau để cùng thực hiện công việc, nhiệm vụ chung. Quá trình lao động mà ở đó nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và có sự tác động qua lại lan nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau, thì lao động của họ mang tính hợp tác. Và để đạt được hiệu quả cao trong quá trình hợp tác, thực hiện các công việc chung đó, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân, và thực hiện những chức năng chung.
Vậy, quản lý lao động là gì? Để hiểu rõ khái niệm này, trước hết, cần hiểu được khái niệm "quản lý". Theo Từ điển tiếng Việt, "quan lý" được hiểu là: (1) Trông coi va giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Quản lý hồ sơ, quản lý vật tư. (2) Tổ chức và điều khiến các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Quản lý lao động, người quan ly’. Theo Từ điển luật hoc, "quản lý" được hiểu theo hai nghĩa: (1) Làm cho hoạt động, tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất. Quản lý được thực hiện bằng ba loại 1. Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 2000, tr. biện pháp chủ yếu (kinh tế, hành chính, giáo dục.) và các hình thức tác động như lãnh đạo, chi đạo, chỉ huy, khen thương. (2) Là giữ gìn, bao quan. Quan lý tài san, quan lý hồ sơ, tài liệu'.
Như vậy, về tổng thể thì "quản lý" được hiểu theo hai phương diện khác nhau: Thứ nhất. về ngữ nghĩa. "quan lý" là sự giữ gìn những thứ đã có theo yêu cầu đặt ra. Ở phương diện này, thì quản lý được dùng để chỉ một phương thức hoặc cách thức nhất định trong việc bảo vệ những thứ đã có theo yêu cầu đặt ra.
Thứ hai, "quan lý" được nhìn nhận theo phương diện là một quan hệ xã hội. Đó là mối quan hệ giữa một bên là chủ thể thực hiện hoạt động quản lý với một bên là đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động chung. chủ thể quản lý có quyền áp đặt ý chí (quyền uy) đối với đổi tượng quản lý thông qua các biện pháp, hình thức nhất định, buộc đối tượng quản lý phải tuân theo (phục tùng) làm cho các hoạt động chung của nhiều người đạt được hiệu qua tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thởơi gian nhanh nhất. Quan lý, theo phương điện này là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quan lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu nhất định.
Từ cách hiểu về "quản lý" như trên, trong quá trình lao động, quản lý lao động được nghiên cứu ở phương diện L. Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. Theo đó, quản lý lao động được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
| Theo nghĩa rộng, quản lý lao động là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình lao động nhằm phát huy có hiệu quả nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu lao động đã để ra. Cụ thể, quản lý lao động là hoạt động của chủ thể quản lý lao động tác động tới đối tượng quản lý lao động bằng các biện pháp (chủ yếu như kinh tế, hành chính, pháp lý, giáo dục.) và các hình thức (lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, kiểm tra, khen thưởng, xử phat.) nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực lao động để đạt được mục tiêu lao động đã đặt ra. Theo nghĩa hẹp, trong lĩnh vực luật lao động, quản lý lao động được hiểu là sự tác động của chủ thể có thẩm quyền tới các đổi tượng khi tham gia quan hệ lao động nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu qua lao động. Với cách hiểu này, chủ thể có thẩm quyền quản lý lao động bao gồm Nhà nước và người sử dụng lao động.
Theo đó, nhà nước và người sử dụng lao động đều thông qua các biện pháp, hình thức quản lý lao động tác động đến các đối tượng tham gia quan hệ lao động, nhằm nâng cao hiệu quả lao động. Tuy nhiên, do xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai chủ thể này khác nhau nên quản lý lao động không giống nhau. Quản lý lao động của Nhà nước, theo Công ước số 150 của Tổ chức lao động quốc tế, là chỉ "những hoạt động hành chính quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính sách 10 quốc gia về lao động"'. Hay nói cách khác, quan lý lao động của Nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước, bằng pháp luật tác động lên các chủ thể của quan hệ lao động nhằm điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung của xã hội, trong đó có lợi ích của Nhà nước.
Cụ thể là nhà nước hoạch định các chính sách về lao động, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật thông qua hệ thông các cơ quan hành chính nhà nước. Đối tượng và phạm vi quản lý lao động của nhà nước rộng lớn, bao gồm các chủ thể của quan hệ lao động trong phạm vi quốc gia. Trong đó, nội dung quản lý lao động của nhà nước bao gồm các nội dung pháp lý chung về phát triển lực lượng lao động xã hội, về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động cũng như các vấn đề về đảm bảo cho sự duy trì, ổn định quan hệ lao động ở các đơn vị sử dụng lao động trong phạm vì cả nước”. Khác với quản lý lao động của Nhà nước, quản lý lao động của người sử dụng lao động là chỉ những hoạt động trực tiếp của người sử dụng lao động trong việc tổ chức, điểu khiển người lao động của đơn vị sử dụng lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Một sốcông ước của Tổ chức lao động quốc tế, Hà Nội, 1993, tr. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ năm), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 11 Cụ thể, người sử dụng lao động, bằng quyền năng của mình được pháp luật cho phép, thực hiện các hoạt động tuyển lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, công tác; khen thưởng và xử ly vi phạm đối với người lao động trong đơn vị, nhằm tạo ra trật tự, nền nếp trong lao động để tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động.
Biện pháp quan lý lao động được áp dụng linh hoạt, tùy thuộc vào người sử dụng lao động trong những điều kiện lao động cụ thể trên cơ sở quy định của pháp luật. Như vậy, có thể thấy, tuy cùng chung mục đích là nhằm bảo đảm cho quan hệ lao động phát triển hài hòa, ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả, năng suất lao động của các đơn vị sử dụng lao động, từ đó giúp cho nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển vững mạnh, song biện pháp, hình thức, phạm vi thực hiện quan lý lao động của nhà nước và người sử dụng lao động thể hiện khác nhau. Từ những phân tích trên, có thể hiểu quản lý lao động của người sử dụng lao động là sự tác động có tổ chức, có mục đích của người sử dụng lao động đối với người lao động trong đơn vị sử dụng lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với cách hiểu này, quản lý lao động của người sử dụng lao động có quan hệ gần gũi va mật thiết với các dang quan lý khác trong đơn vị sử dụng lao động như quản trị nhân lực, quản lý kinh doanh.
Điểm chung giữa các hoạt động quản lý này là đều bao hàm các yếu tố về quản lý lao động hiểu theo nghĩa rộng đã nêu trên. Tuy nhiên, ấn chứa trong những điểm giống nhau đó là sự khác biệt rất rõ rệt thể hiện trong 12 nội hàm của các khái niệm này. Để nhận diện quản lý lao động của người sử dụng lao động và phân biệt quản lý lao động của người sử dụng lao động với các dạng quản lý khác trong đơn vị sử dụng lao động, ở mức độ khái quát, có thể dựa vào các đặc điểm của quản lý lao động sau đây: - Chủ thể quản lý lao động là người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động là người có quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản trong đơn vị đồng thời là người mua sức lao động của người lao động.
Vi thế, trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động, do mục tiêu lợi nhuận, nên họ phải làm sao để sử dụng có hiệu qua cao nhất từ sức lao động của người lao động. Người sử dụng lao động là chủ thể quản lý lao động phải có đầy đủ các điều kiện về năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động theo quy định của pháp luật lao động. Khác với chủ thể của quản lý lao động, chủ thể thực hiện hoạt động quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp tương đối phong phú, đa dạng.