Pháp luật chuyên khảo về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam

Khám phá quy định pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động tại Việt Nam qua sách chuyên khảo chi tiết và chuyên sâu.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sách chuyên khảo

2016

283
10
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

1.1. QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

1.1.1. Khái niệm

1.1.2. Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Tóm tắt

I. Quyền của người sử dụng lao động

Quyền của người sử dụng lao động là một khía cạnh quan trọng trong pháp luật lao động tại Việt Nam. Theo Bộ luật Lao động 2012, người sử dụng lao động có quyền tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động, khen thưởng và xử lý vi phạm. Những quyền này được thiết lập nhằm đảm bảo hiệu quả trong quản lý và sản xuất. Quyền quản lý lao động không chỉ giúp duy trì trật tự trong đơn vị mà còn góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

1.1. Khái niệm quyền quản lý lao động

Quyền quản lý lao động được hiểu là quyền của người sử dụng lao động trong việc tổ chức, điều hành và kiểm soát quá trình lao động. Đây là quyền được pháp luật công nhận, giúp người sử dụng lao động đạt được mục tiêu kinh doanh. Theo Từ điển Luật học, quản lý lao động bao gồm các hoạt động như tuyển dụng, bố trí, khen thưởng và xử lý vi phạm. Quyền này không chỉ giới hạn trong phạm vi đơn vị mà còn liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý đối với người lao động.

1.2. Phạm vi quyền quản lý lao động

Phạm vi quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động bao gồm các hoạt động từ tuyển dụng đến chấm dứt hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động có quyền ban hành nội quy, quy chế lao động và kiểm tra, giám sát quá trình lao động. Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo không vi phạm các quyền cơ bản của người lao động. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.

II. Pháp luật lao động tại Việt Nam

Pháp luật lao động tại Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ luật Lao động 2012 là văn bản pháp lý quan trọng, quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Pháp luật lao động không chỉ bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn tạo cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động quản lý hiệu quả. Sự tham gia của Nhà nước trong quản lý lao động đã chuyển dần từ tính chất hành chính sang dân sự, tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2.1. Sự phát triển của pháp luật lao động

Pháp luật lao động tại Việt Nam đã phát triển qua nhiều giai đoạn, từ Bộ luật Lao động 1994 đến Bộ luật Lao động 2012. Những thay đổi này phản ánh sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động. Các quy định về hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và điều kiện lao động ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

2.2. Vai trò của Nhà nước trong quản lý lao động

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách và ban hành pháp luật lao động. Thông qua các cơ quan hành chính, Nhà nước thực hiện quản lý lao động trên phạm vi toàn quốc. Các chính sách về lao động, điều kiện lao động và sử dụng lao động được Nhà nước điều chỉnh nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của quan hệ lao động. Điều này thể hiện sự kết hợp giữa quản lý nhà nước và quyền tự chủ của các bên trong quan hệ lao động.

III. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động là một phần không thể thiếu trong pháp luật quản lý lao động tại Việt Nam. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, trả lương đúng hạn và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Những nghĩa vụ này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn góp phần duy trì sự ổn định trong quan hệ lao động. Việc tuân thủ các nghĩa vụ này cũng giúp người sử dụng lao động xây dựng uy tín và vị thế trên thị trường.

3.1. Đảm bảo điều kiện làm việc

Đảm bảo điều kiện làm việc là nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng lao động. Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động phải cung cấp môi trường làm việc an toàn, đảm bảo sức khỏe và tính mạng của người lao động. Điều này bao gồm việc trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động. Việc tuân thủ các quy định này không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm đạo đức của người sử dụng lao động.

3.2. Trả lương và bảo hiểm xã hội

Trả lương và bảo hiểm xã hội là nghĩa vụ quan trọng của người sử dụng lao động. Theo Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải trả lương đúng hạn và đầy đủ cho người lao động. Ngoài ra, họ còn phải thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Những nghĩa vụ này không chỉ đảm bảo quyền lợi của người lao động mà còn góp phần ổn định đời sống và tạo động lực làm việc cho họ.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG I. QUYEN QUAN LÝ LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG 1. Khái niệm a) Quan lý lao động Đối với mỗi con người, lao động được coi là hoạt động quan trọng nhất, nhằm tác động, biến đối những vật thể tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tỉnh thần trong đời sống hàng ngày. Đối với xã hội, lao động là điều kiện tất yếu, cơ bản tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để xã hội tổn tại và phát triển.

Dù đối với mỗi con người cụ thể hay đối với nhiều người trong phạm vi xã hội, lao động luốn được diễn ra theo một quy trình, trong đó bao gồm những hoạt động chân tay và trí óc của con người để hoàn thành nhiệm vụ, công việc nhất định. Trong thực tế, con người không thực hiện các hoạt động lao động một cách đơn le, tach rời mà họ thường liên kết với nhau để cùng thực hiện công việc, nhiệm vụ chung. Quá trình lao động mà ở đó nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và có sự tác động qua lại lan nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau, thì lao động của họ mang tính hợp tác. Và để đạt được hiệu quả cao trong quá trình hợp tác, thực hiện các công việc chung đó, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân, và thực hiện những chức năng chung.

Vậy, quản lý lao động là gì? Để hiểu rõ khái niệm này, trước hết, cần hiểu được khái niệm "quản lý". Theo Từ điển tiếng Việt, "quan lý" được hiểu là: (1) Trông coi va giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Quản lý hồ sơ, quản lý vật tư. (2) Tổ chức và điều khiến các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.

Quản lý lao động, người quan ly’. Theo Từ điển luật hoc, "quản lý" được hiểu theo hai nghĩa: (1) Làm cho hoạt động, tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất. Quản lý được thực hiện bằng ba loại 1. Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb.

Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 2000, tr. biện pháp chủ yếu (kinh tế, hành chính, giáo dục.) và các hình thức tác động như lãnh đạo, chi đạo, chỉ huy, khen thương. (2) Là giữ gìn, bao quan. Quan lý tài san, quan lý hồ sơ, tài liệu'.

Như vậy, về tổng thể thì "quản lý" được hiểu theo hai phương diện khác nhau: Thứ nhất. về ngữ nghĩa. "quan lý" là sự giữ gìn những thứ đã có theo yêu cầu đặt ra. Ở phương diện này, thì quản lý được dùng để chỉ một phương thức hoặc cách thức nhất định trong việc bảo vệ những thứ đã có theo yêu cầu đặt ra.

Thứ hai, "quan lý" được nhìn nhận theo phương diện là một quan hệ xã hội. Đó là mối quan hệ giữa một bên là chủ thể thực hiện hoạt động quản lý với một bên là đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động chung. chủ thể quản lý có quyền áp đặt ý chí (quyền uy) đối với đổi tượng quản lý thông qua các biện pháp, hình thức nhất định, buộc đối tượng quản lý phải tuân theo (phục tùng) làm cho các hoạt động chung của nhiều người đạt được hiệu qua tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thởơi gian nhanh nhất. Quan lý, theo phương điện này là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quan lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu nhất định.

Từ cách hiểu về "quản lý" như trên, trong quá trình lao động, quản lý lao động được nghiên cứu ở phương diện L. Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. Theo đó, quản lý lao động được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

| Theo nghĩa rộng, quản lý lao động là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình lao động nhằm phát huy có hiệu quả nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu lao động đã để ra. Cụ thể, quản lý lao động là hoạt động của chủ thể quản lý lao động tác động tới đối tượng quản lý lao động bằng các biện pháp (chủ yếu như kinh tế, hành chính, pháp lý, giáo dục.) và các hình thức (lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, kiểm tra, khen thưởng, xử phat.) nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực lao động để đạt được mục tiêu lao động đã đặt ra. Theo nghĩa hẹp, trong lĩnh vực luật lao động, quản lý lao động được hiểu là sự tác động của chủ thể có thẩm quyền tới các đổi tượng khi tham gia quan hệ lao động nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu qua lao động. Với cách hiểu này, chủ thể có thẩm quyền quản lý lao động bao gồm Nhà nước và người sử dụng lao động.

Theo đó, nhà nước và người sử dụng lao động đều thông qua các biện pháp, hình thức quản lý lao động tác động đến các đối tượng tham gia quan hệ lao động, nhằm nâng cao hiệu quả lao động. Tuy nhiên, do xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai chủ thể này khác nhau nên quản lý lao động không giống nhau. Quản lý lao động của Nhà nước, theo Công ước số 150 của Tổ chức lao động quốc tế, là chỉ "những hoạt động hành chính quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính sách 10 quốc gia về lao động"'. Hay nói cách khác, quan lý lao động của Nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước, bằng pháp luật tác động lên các chủ thể của quan hệ lao động nhằm điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung của xã hội, trong đó có lợi ích của Nhà nước.

Cụ thể là nhà nước hoạch định các chính sách về lao động, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật thông qua hệ thông các cơ quan hành chính nhà nước. Đối tượng và phạm vi quản lý lao động của nhà nước rộng lớn, bao gồm các chủ thể của quan hệ lao động trong phạm vi quốc gia. Trong đó, nội dung quản lý lao động của nhà nước bao gồm các nội dung pháp lý chung về phát triển lực lượng lao động xã hội, về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động cũng như các vấn đề về đảm bảo cho sự duy trì, ổn định quan hệ lao động ở các đơn vị sử dụng lao động trong phạm vì cả nước”. Khác với quản lý lao động của Nhà nước, quản lý lao động của người sử dụng lao động là chỉ những hoạt động trực tiếp của người sử dụng lao động trong việc tổ chức, điểu khiển người lao động của đơn vị sử dụng lao động.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Một sốcông ước của Tổ chức lao động quốc tế, Hà Nội, 1993, tr. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ năm), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 11 Cụ thể, người sử dụng lao động, bằng quyền năng của mình được pháp luật cho phép, thực hiện các hoạt động tuyển lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, công tác; khen thưởng và xử ly vi phạm đối với người lao động trong đơn vị, nhằm tạo ra trật tự, nền nếp trong lao động để tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động.

Biện pháp quan lý lao động được áp dụng linh hoạt, tùy thuộc vào người sử dụng lao động trong những điều kiện lao động cụ thể trên cơ sở quy định của pháp luật. Như vậy, có thể thấy, tuy cùng chung mục đích là nhằm bảo đảm cho quan hệ lao động phát triển hài hòa, ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả, năng suất lao động của các đơn vị sử dụng lao động, từ đó giúp cho nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển vững mạnh, song biện pháp, hình thức, phạm vi thực hiện quan lý lao động của nhà nước và người sử dụng lao động thể hiện khác nhau. Từ những phân tích trên, có thể hiểu quản lý lao động của người sử dụng lao động là sự tác động có tổ chức, có mục đích của người sử dụng lao động đối với người lao động trong đơn vị sử dụng lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với cách hiểu này, quản lý lao động của người sử dụng lao động có quan hệ gần gũi va mật thiết với các dang quan lý khác trong đơn vị sử dụng lao động như quản trị nhân lực, quản lý kinh doanh.

Điểm chung giữa các hoạt động quản lý này là đều bao hàm các yếu tố về quản lý lao động hiểu theo nghĩa rộng đã nêu trên. Tuy nhiên, ấn chứa trong những điểm giống nhau đó là sự khác biệt rất rõ rệt thể hiện trong 12 nội hàm của các khái niệm này. Để nhận diện quản lý lao động của người sử dụng lao động và phân biệt quản lý lao động của người sử dụng lao động với các dạng quản lý khác trong đơn vị sử dụng lao động, ở mức độ khái quát, có thể dựa vào các đặc điểm của quản lý lao động sau đây: - Chủ thể quản lý lao động là người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động là người có quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản trong đơn vị đồng thời là người mua sức lao động của người lao động.

Vi thế, trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động, do mục tiêu lợi nhuận, nên họ phải làm sao để sử dụng có hiệu qua cao nhất từ sức lao động của người lao động. Người sử dụng lao động là chủ thể quản lý lao động phải có đầy đủ các điều kiện về năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động theo quy định của pháp luật lao động. Khác với chủ thể của quản lý lao động, chủ thể thực hiện hoạt động quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp tương đối phong phú, đa dạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Pháp luật quản lý lao động: Quyền của người sử dụng lao động tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong bối cảnh pháp luật lao động Việt Nam. Nội dung tập trung vào việc phân tích các quy định về hợp đồng lao động, quản lý nhân sự, và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động, đồng thời đề cập đến thực tiễn áp dụng và những thách thức trong quá trình thực thi. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp, nhà quản lý, và những người quan tâm đến lĩnh vực lao động, giúp họ nắm rõ các quy định pháp lý để vận hành doanh nghiệp một cách hiệu quả và tuân thủ pháp luật.

Để hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học so sánh pháp luật về hợp đồng lao động Việt Nam và Hàn Quốc, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn so sánh giữa hai hệ thống pháp luật, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự khác biệt và tương đồng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về giao kết hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Yusen Logistics Việt Nam sẽ mang đến những phân tích cụ thể về quy trình giao kết hợp đồng lao động trong thực tế. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực lao động. Những tài liệu này là cơ hội tuyệt vời để mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều về chủ đề này.