CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA PHAP LUẬT VE GIAO KET HỢP DONG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NAM 2019 VE GIAO KET HỢP DONG LAO DONG 1. Khái quát chung về giao kết hợp đồng lao động 1. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Đề hiểu được khái niệm giao kết HDLD là gì, trước tiên chúng ta tim hiểu thé nào là HDLD. Ở các Quốc gia trên thé giới, HDLD là một chế định rất quan trọng, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của luật lao động.
HDLD là một trong những nội dung không thé thiếu của hầu hết các Bộ luật lao động của mỗi quốc gia. Ở Trung Quốc, HDLD được quy định tại điều 16 Luật lao động của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa: “Hợp đồng lao động là sự hiệp nghị (thoả thuận) xác lập quan hệ lao động, quyên lợi và nghĩa vụ của NLD và NSDLĐ”. O khái niệm này có ưu điểm xác định được rõ các bên của HDLD, khang định việc thiết lập quan hệ lao động phải thông qua HĐLĐ, tuy nhiên, nhược điểm của khái niệm này là chưa nêu được nội dung, bản chất của HDLD. O Hàn Quốc, đạo luật số 6974 ngày 15/09/2003 quy định tại Điều 17: “Thuật ngữ HĐLĐ trong luật này có nghĩa là hop dong được kí kết dé ghi nhận rằng NLD làm việc cho NSDLĐ và NSDLĐ trả lương cho việc làm đó ”.
Khái niệm này có tính giải thích nhằm phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng khác có nội dung tương tự. Tại Việt Nam, HDLD cũng được ghi nhận từ rất sớm, trải qua các thời kì lịch sử, trong nhiều các văn bản pháp lý, có thé thay trong sắc lệnh số 29 ngày 12/03/1947 quy định việc tuyên chọn, quyền và nghĩa vu của giới chủ và người làm công; Trong pháp lệnh HĐLĐ được Hội đồng nhà nước ban hành ngày 30/08/1990,. BLLĐ năm 2012 thay thế cho BLLĐ năm 1994 có quy định về khái niệm HĐLĐ tại điều 15 như sau: “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Như vậy, khái niệm HĐLĐ được quy định trong BLLD khá rõ ràng và đầy đủ.
Thời điểm hiện tại, Bộ luật lao động là cơ sở pháp lý cho các bên chủ thể tham gia thiết lập vào các quan hệ lao động. Xuất phát từ nhiều vấn đề trong thời kì đất nước đổi mới, hướng tới sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, trong kì họp thứ 8, Quốc hội khoá 14 đã thông qua BLLĐ năm 2019. Theo đó, khái nệm HDLD được quy định tại Điều 13 BLLĐ năm 2019 như sau: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thé hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Với khái niệm này, HDLD đã thể hiện khái quát hơn và phản ánh được ban chat của HDLD, các yếu tố cơ bản hình thành nên HĐLĐ, khi các bên giao kết thỏa thuận bằng tên gọi khác (ví dụ như Hợp đồng dịch vụ, cộng tác viên,.) nhưng đáp ứng 02 điều kiện sau thi được xác định là HDLD: (1) Có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương; (2) Có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Như vậy để thiết lập nên các mối quan hệ lao động trên cơ sở HĐLĐ, các bên tham gia cần phải giao kết HDLD. Đây là cơ sở quan trọng, là nền tảng của luật lao động Việt Nam để hình thành, phát sinh quan hệ lao động cũng như là cơ sở cho việc thực hiện và chấm dứt quan hệ lao động. Vay giao kết HDLD là gì? Theo từ điển Tiếng việt thông dụng của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (tái bản 12/09/2009) do tác giả Như Ý biên soạn, giao kết được hiểu là “Đưa ra và cam kết những điều mà mỗi bên phải thực hiện”.
Như vậy, giao kết là việc các bên tham gia đưa ra các van dé và cam kết về các van dé đó mà các bên sẽ phải thực hiện đối với nhau. Từ hai khái niệm HĐLĐ và giao kết thì giao kết HĐLĐ được hiểu là quá trình NLĐ và NSDLĐ cùng bày tỏ ý chí đưa ra các vấn đề của quan hệ lao động như việc làm có trả công, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, quyền và nghĩa vụ của các bên. để các bên cùng thoả thuận, đồng thời cam kết thực hiện những điều khoản đã đưa ra. HĐLĐ là cơ sở làm phát sinh ra các quan hệ lao động, tat cả các van dé trong quá trình thực hiện hợp đồng đều được phản ánh cụ thể, rõ ràng trong nội dung của hợp đồng, vì vậy, nội dung của HDLD là một van dé quan trọng mà các bên chủ thé đều hết sức quan tâm khi giao kết.
HDLD hình thành do sự thương lượng, đàm phán và thoả thuận của các bên chủ thé, dé đảm bao quyên, lợi ich cho các bên cũng như hướng đến vào trọng tâm của quan hệ lao động, pháp luật đã quy định các nội dung cơ ban để các bên cing thương lượng, thoả thuận. Do đó, các bên có quyền tự do đàm phán, thoả thuận nội dung của hợp đồng nhưng trong phạm vi mà pháp luật lao động cho phép, hay nói cách khác là nội dung mà các bên chủ thê thoả thuận phải phù hợp với luật pháp lao động. HDLD phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với NLD. Đặc điểm của giao kết hop đồng lao động Đặc điểm đầu tiên của giao kết HDLD là sự tự nguyện.
Ban chất của giao kết HĐLĐ chính là sự tự do, tu nguyện thỏa thuận, thương lượng cá nhân giữa NLD va NSDLD dé thống nhất ý chí và đi đến việc ký kết HDLD, xác lập nên quan hệ lao động. Hành vi giao kết hợp đồng là điều kiện ràng buộc các chủ thê và vì vậy sự giao kết bao giờ cũng có tính đích danh. HDLD là công cụ pháp lý quan trọng dé xác lập mối quan hệ lao động giữa NSDLD va NLD. Giao kết HDLD được coi là van đề trung tâm trong mối quan hệ lao động.
Giao kết HDLD là hành vi pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động. Một mặt, giao kết HĐLĐ là tiền đề ban đầu tạo điều kiện cho quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên được xác lập và thực hiện trong tương lai; mặt khác, đó là cơ sở cho sự ồn định, hài hòa bền vững của quan hệ lao động sẽ được thiết lập. Ý nghĩa của giao kết hợp đồng lao động Có thé khang định HĐLĐ là công cụ hữu hiệu nhằm bảo dam cho các bên thiết lập và duy trì quan hệ lao động một cách thuận tiện. Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, hầu hết các yếu tố của đời sống xã hội sẽ chịu sự tác động và phát triển của các quy luật đặc thù như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung — cầu.
Quan hệ lao động cũng không nằm ngoài sự tác động đó. Sức lao động của con người từ lâu đã trở thành một loại hàng hóa được trao đổi trong xã hội, dần làm hình thành nên thị trường lao động, tồn tại đồng thời với các thị trường hàng hóa khác trong nền kinh tế. Hành động trao đổi, mua bán hàng hóa này chính là thiết lập quan hệ lao động hay nói cách khác bản chất của quan hệ lao động trong nền kinh tế hàng hóa thị trường là quan hệ mua bán sức lao động. Tuy nhiên, hàng hóa sức lao động này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân mỗi người mà còn là nguồn sốc tạo ra mọi sản phẩm xã hội, duy trì sự ton tại va phat triển của xã hội.
Vì vậy, mỗi quốc gia trong chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình cần phải có kế hoạch bảo vệ, phát triển nó. Cho nên pháp luật của mỗi quốc gia đã ghi nhận quyền tự do lao động, việc làm, quyền sự do mua bán sức lao động là để có cơ sở pháp lý bảo vệ các chủ thé tham gia vào quan hệ lao động. Cụ thé việc giao kết HDLD có một số ý nghĩa sau: Thứ nhất, giao kết HDLD là cơ sở hình thành nên quan hệ lao động. Dé 10 có được quan hệ lao động các bên bắt buộc phải có giai đoạn này — giai đoạn tiền đề cho một quan hệ lao động.
Đây là giai đoạn các bên thỏa thuận, đàm phán các nội dung sẽ và được thực hiện trong tương lai và là điều kiện bắt buộc trước khi hình thành quan hệ lao động. NLĐ cần phải biết được mình sẽ làm công việc gì, mức lương là bao nhiêu, thời gian làm việc thế nào và hàng loạt các quyên lợi khác. NSDLĐ cũng vậy, họ cần biết NLD trong tương lai là ai, năng lực làm việc thế nào, có thể mang lại cho họ những giá trị gì? Đó là hàng loại các thông tin mà các bên cần đàm phán, nếu cả hai bên đều thỏa thuận và thông nhất được các điều khoản đó thì họ mới tiến hành ký kết HDLD, kề từ đó mới hình thành nên quan hệ lao động. Vì vậy, đây là giai đoạn tiền đề dé hình thành và cũng là căn cứ pháp lý dé xác lập quan hệ lao động.
Thứ hai, giao kết HĐLĐ sẽ đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ. Giao kết là việc làm ngay từ ban đầu, hình thành nên quan hệ lao động quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó nếu việc giao kết được thực hiện tốt theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của các bên thì quyền lợi của các bên sau này sẽ được đảm bảo, quan hệ lao động được bền vững, lâu dai và tranh chấp lao động sẽ hạn chế xảy ra. Nếu việc giao kết không đảm bảo sẽ có thé dẫn tới HDLD vô hiệu, điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và nghĩa vụ của các bên, thậm chí quan hệ lao động có thể bị chấm dứt,.