Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÔNG NHAN SỰ THOA THUẬN CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC DIEM VA Ý NGHĨA CUA CONG NHAN SỰ THỎA THUAN CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ 1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm thỏa thuận của đương sự trong to tụng dân sự Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là vẫn đề nhân quyền đã và đang được đặt ra với mỗi quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thé nếu chỉ được công nhận bởi pháp luật mà không có cơ chế bảo vệ chúng trong trường hợp bị xâm phạm thì việc ghi nhận đó chỉ là vô nghĩa. Đúng như ông Nguyễn Huy Dau đã nói: “Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiễu khi không du dam bảo cho người có chủ quyền hưởng dụng: quyên lợi có thé bị phủ nhận, bị xâm phạm” [9, tr. Do đó, cần phải có cơ chế thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi quyền này bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Theo đó, dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của minh, con người có quyên thực hiện các biện pháp khác nhau dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như tự giải quyết, yêu cầu Tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thâm quyền khác bảo vệ.
Trong các biện pháp này thì việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng con đường thỏa thuận thường được các chủ thể lựa chọn áp dụng vi tinh dé sử dụng, chi phí thấp, giải quyết tranh chấp trong thời gian ngắn, các bên được tiếp cận công lý một cách nhanh nhất và họ được quyền tự quyết định việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp của mình mà không cần phải nhờ đến Tòa án giải quyết băng việc mở phiên tòa. Hiện nay, ở các nước trên thế giới hầu hết đều thừa nhận thỏa thuận là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn. Việc thỏa thuận này có thé được thực hiện thông qua việc tự thỏa thuận giữa các đương sự, hòa giải do người thứ ba tiễn hành hoặc hòa giải do Tòa án tiến hành. Chang hạn như ở Mỹ, trước khi các đương sự khởi kiện đến Tòa án thì các bên gặp nhau dé trao đổi, thỏa thuận trước khi nộp bat cứ, tài liệu gì cho Tòa án.
Sau khi các bên gặp nhau mà vẫn không thỏa thuận 6 được thì họ vẫn có thể nhờ sự giúp đỡ của người thứ ba không phải là nhân viên của Tòa án (bạn bè, người thân, luật sư. Nếu các bên đạt được thỏa thuận thì các bên sẽ tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Ngoài ra, ở Mỹ việc thỏa thuận của các đương sự còn thông qua một con đường hòa giải chính thức được tiến hành bởi các trọng tài viên hoặc hòa giải viên (không phải là nhân viên của Tòa án). Việc thỏa thuận thông qua hòa giải chính thức có thể là bắt buộc hoặc không bắt buộc.
Đối với việc hòa giải thông qua các trọng tài viên thì các bên có thể chọn cho mình 1 trọng tài viên và các trọng tài viên này chọn trọng tài viên thứ ba. Các trọng tài viên này sẽ nghe các đương sự trình bày và ra phán quyết về vụ kiện. Còn việc hòa giải thông qua các hòa giải viên thì các hòa giải viên gặp cả 2 bên đương sự dé xác định tư cách pháp lý của họ trong vụ kiện hoặc hòa giải viên sẽ gặp 1 bên đương sự trước đề tìm hiểu chính xác yêu cầu cụ thé của bên đương sự đó là gì. Sau đó, hòa giải viên tiến hành tương tự đối với bên đương sự còn lại.
Hòa giải viên là cầu nối, trung gian giữa 2 bên để giải quyết vụ kiện. Chỉ có hòa giải viên mới biết được thực chất mỗi bên đương sự yêu cầu cụ thể như thế nào. Trên cơ sở đó họ sẽ thuyết phục các bên đương sự chấp nhận phương án mà họ đưa ra dé tiến tới một giải pháp chung cho vụ kiện mà cả hai bên đương sự đều đồng ý [34. Sở đĩ ở Mỹ hay các nước theo truyền thống pháp luật án lệ, các thâm phán không tiến hành hòa giải mà Tòa án chuyên vụ việc cho hòa giải viên ngoài Tòa án tiễn hành.
Bởi vi, mô hình nay (i) tiết kiệm được thời gian mà lẽ ra thẩm phán hoặc cán bộ tòa án phải dành ra dé hòa giải vụ việc. Hệ thong nay co thé van hanh kha độc lập. Vi thế, mô hình này tối ưu hóa các nguồn lực của Tòa án; (ii) thường tạo cho các bên cơ hội để lựa chọn hòa giải viên cho mình với những kỹ năng và kiến thức chuyên môn mà họ tin rằng có ích nhất cho mâu thuẫn của ho; (iii) nếu các hòa giải viên được đãi ngộ hợp lý, họ rất có thé có động lực dé dành cho các bên đủ thời gian dé hòa giải thấu đáo và có được giải pháp công bang dựa trên nguyên tắc [42, tr. Ở Cộng hòa Pháp, khi các đương sự đã khởi kiện ra Tòa án thì việc thỏa thuận của các bên đương sự được thực hiện thông qua việc các bên tự hòa giải, thâm phán tiên hành hòa giải[20, tr.3], hòa giải do người thứ ba tiến hành do thẩm phán Tòa sơ thâm thẩm quyền hẹp ủy quyền hòa giải cho người thứ ba [19, tr.
Ngoài ra, khi chưa khởi kiện ra Tòa án thì các bên có thể thương lượng và yêu cầu Tòa án công nhận kết quả thương lượng giữa các bên [19, tr.17] hoặc các bên có thể yêu cầu CNSTT đối với VDS như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (Điều 1099 BLTTDS Cộng hòa 7 Pháp) [18]. Như vậy, khác với các nước theo truyền thống pháp luật án lệ thì Cộng hòa Pháp hay các nước theo truyền thống pháp luật dân sự lại sử dụng mô hình thâm phán tiễn hành hòa giải. Bởi vì, vai trò của thâm phán thường bao gồm việc nỗ lực giúp các bên giải quyết van dé của họ đồng thời hòa giải tại tòa cho phép Tòa án có sự kiểm soát mạnh hơn và giám sát trực tiếp toàn bộ quá trình để bảo đảm rằng mỗi vụ việc đều được giải quyết nhanh chóng, phù hợp, với chất lượng hòa giải chấp nhận được [42, tr. Nhu vậy, dù thỏa thuận giữa các đương sự trong VVDS đạt được bằng cach nào thì đó không chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả mà còn là một biện pháp hàn gắn vết thương thay vi cắt bỏ vết thương [19, tr.
Theo đó, các cá nhân và doanh nghiệp quen với việc sử dụng hòa giải ngay khi bắt đầu có mâu thuẫn, thậm chí trước khi xem xét thủ tục tố tụng. Điều này giúp tránh được những vụ việc không cần thiết phải đưa ra khiếu kiện tại Tòa án[42, tr. Thậm chí khi các bên đưa vụ kiện ra Tòa án thì các bên vẫn có thê thỏa thuận dé giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn của minh. Vậy dé có thé hiểu được thé nào là thỏa thuận của đương sự trong TTDS thì trước tiên cần phải làm rõ thuật ngữ “77DS” và “đương sự”.
Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tung" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tung (code đeprocédure)"[1, tr. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia[10, tr.1027- 1028] giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công dé phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tung" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái". Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì "Tố tung" là việc thưa kiện ở Toa án. TTDS được ghép hai từ “tố tụng” và “dân sự”.
“Tố tụng” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh (procedere), được hiểu là một đường lối phải tuân theo dé đi đến chỗ thắng kiện. Ngoài ra, còn có một thuật ngữ khác tương đương với thuật ngữ “tố tụng” là thuật ngữ “thủ tục”, có nguồn sốc từ tiếng Nhật Ban, được hiểu là một thé thức phải làm dé đạt được một kết quả nhất định [9, tr. Ở các nước trên thế gidi, chăng hạn như Anh thì các nhà nghiên cứu luật học quan niệm tổ tung (procedure) là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết. Các nhà nghiên cứu của Pháp thì cho rằng tố tụng là toàn bộ những thể thức phải theo dé đệ trình một yêu cầu trước Thâm phán [2, tr.
Như vậy, có thê thay đa số các nước đều thừa nhận TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải quyết một vụ kiện dân sự. Ở Việt Nam, về nội hàm của khái niệm TTDS vẫn còn có những ý kiến trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất cho rang THADS là một hoạt động của TTDS [36, tr. Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính.
Mặt khác, THADS ở nước ta lại không do Tòa án - cơ quan tư pháp tổ chức. Y kiến thứ ba cho rang thi hành án là dạng hoạt động hành chính - tư pháp vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án - cơ quan tư phap[37, tr. THADS không phải là hoạt động hành chính bởi vì bản chất của thi hành án là một dạng của hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trong thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành — nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động THADS mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tô tụng trước đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật. Bản thân các quy định của pháp luật được Nhà nước ban hành đã có tình bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện. Ngoài ra, THADS không phải là hoạt động TTDS, nó có những đặc trưng khác biệt với hoạt động giải quyết VVDS của Tòa án.