CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE QUYEN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CUA DUONG SU TRONG GIAI DOAN PHUC THAM VU AN DAN SU 1.1 Các van đề lý luận co ban của quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự.1 Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự. Theo pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành, quyền tự định đoạt của đương sự là nhóm quyên tố tụng của đương sự trong việc tự quyết định việc bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình thông qua thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án và quyên tự quyết định về quyên, lợi ích đó thông qua việc thỏa thuận với các đương sự khác. Xã hội là một hệ thông với các mối quan hệ đa dạng và phức tạp, các chủ thé trong xã hội luôn có các quyền và nghĩa vụ đi kèm đó là lợi ích của chủ thể đan xen. Khi các chủ thê tham gia vào các quan hệ xã hội phải thực hiện đúng các và nghĩa vụ theo pháp luật.
Các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định dé bảo vệ quyên, lợi ích đó như yêu cầu người có hành vi trái pháp luật cham dứt hành vi trái pháp luật, yêu cầu Tòa án hoặc co quan nha nước có thâm quyền khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó, đối với những việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự; đối với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là việc dân sự. Đương sự trong vụ án dân sự có những quyên định đoạt như sau: Quyên tự định đoạt, quyền tự quyết, quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án và cơ quan chức năng có có thâm quyên giải quyét vụ việc dân sự, quyên thay 11 đôi, bô sung, yêu câu châm dut, thỏa thuận về việc giải quyết vụ việc dân sự, quyên quyết định việc kháng cáo hay khiêu nại bản án quyêt định cua Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền tự định đoạt được thể hiện xuyên suốt quá trình tố tụng, từ khi các chủ thể thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự cho đến các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng, khi các đương sự thực hiện việc thay đôi, sửa đối, bồ sung, rút yêu cầu nội dung kháng cáo, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, tự thỏa thuận, thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự. Hơn nữa, Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử phải đảm bảo cho các đương sự được thực hiện các quyền tổ tụng của họ. Sở dĩ cần thiết phải quy định nguyên tắc này, bởi lẽ dựa trên bản chất của quan hệ pháp luật dân sự là tự do, tự nguyện cam kết và thỏa thuận hay cham dứt các quyền. Các mối quan hệ dân sự là các quan hệ tư, quan hệ tư nhân, tư hữu, tự quyết định các nội dung là những quyên, nghĩa vụ quyền nhân thân và quyền tài san.
Do đó, ý chí của các chủ thé luôn phải được tôn trọng và dam bảo quyền và nghĩa vụ thực hiện, các chủ thé có quyền tự định đoạt, quyền tự quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, việc quy định nguyên tắc này sẽ bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật dân sự. Có thê thấy răng, giữa pháp luật nội dung và pháp luật hình thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, các nguyên tắc cơ bản của tô tung dân sự phải tương thích với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Pháp luật dân sự đã ghi nhận nội dung các quyền định đoạt của chủ thé, đây là cơ sở pháp lý quan trong dé các chủ thể có thể thực hiện được quyền của mình cũng như là cơ sở dé bảo vệ khi các quyền đó bị xâm phạm, chống lại các quyền khác xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, nếu không có một trình tự, thủ tục cụ thé dé bảo vệ 12 quyên lợi hợp pháp đó thì rất khó có thé đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự với tư cách là pháp luật hình thức, ghi nhận trình tự thủ tục dé các chủ thể có thé bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình. Trong các chế độ xã hội cô đại, khái niệm quyền con người chưa được nghiên cứu sâu, còn sơ khai. [93] Trong tài liệu về Cyrus vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, Cyrus Đại đế đã tuyên bố trả tự do cho tất cả những người Do Thái bị bắt làm phu tù ở Babylon dé họ có thé trở về quê hương của mình.
Những ý tưởng quyền cá nhân nhanh chóng lan sang các nước láng giềng của Lưỡng Hà ở châu Âu, bao gồm cả Hy Lạp và La Mã. Có tài liệu cho rằng quyền tự nhiên, nó bắt nguồn từ học thuyết quy luật tự nhiên ra đời sau sự kết hợp giữa văn hóa triết học Hy Lạp cô đại với văn hóa phương Đông, tức là được truyền lại từ châu A vào trong tư tưởng pháp lý và chính trị phương Tây. Vào thé kỷ 17 và 18, Grotius và Spinoza ở Ha Lan, Hobbes và John Locke ở Anh, Voltaire, Diderot và Montesquieu ở Pháp, va Rousseau ở Thuy Si,. đã kế thừa va thúc day quyền, xây dựng những bước phát triển quan trọng về tư tưởng quyền cá nhân của con người.
Hiện nay quyền tự nhiên thường được hiểu là quyền sống, quyền bình đăng, những quyền mà con người sinh ra được hưởng, tại nhiều quốc gia vai trò của Hiến pháp chỉ là phương tiện bảo vệ và thực hiện quyền con người. Trong lịch sử, cũng đã có những tiền lệ về việc phủ nhận quyền Con người bằng luật xác thực, chăng hạn như chế độ phát xít, tiêu biểu Đức Quốc Xã cung cấp các biện pháp pháp lý cho tội ác diệt chủng của chúng, tước bỏ quyền tự do, hạnh phúc và quyền sở hữu tài sản. Với ngôn ngữ pháp lý "quyén” là khái niệm khoa học pháp lý có thê được hiểu dùng đề chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo 13 quyên và nghĩa vụ thực hiện đôi với cá nhân, tô chức đê theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi không bị bị tước đoạt. Ngay từ thời La Mã và Athens cô dai, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Luật La Mã cô đại đã quy định các nguyên tắc tự chủ của tư nhân các quyền tự chủ [94] “ Quyền định đoạt ” đã xuất hiện trong tố tụng dân sự. Sự nảy mam của Luật Athens đã từng quy định " vụ kiện tư có thể do mình trực tiếp khởi kiện " đương sự có quyền đình chỉ vụ kiện tư, quy định nguyên đơn khởi kiện riêng, trong quá trình xét xử các bên có thể tranh luận và bảo vệ quyên lợi của mình đây đủ tại Tòa án Năm 1806, Bộ luật tố tụng dân sự Pháp lần đầu tiên xác lập nguyên tắc quyền định đoạt trong hệ thống tố tụng dân sự hiện dai [95], nguyên nghĩa của nguyên tắc định đoạt là quy trình tố tụng của vụ kiện phải do các bên tức là đương sự kiểm soát, có quyền khởi kiện, thúc đây vụ kiện, từ bỏ vụ kiện và đồng ý với các yêu sách của bên kia. Do khẩu hiệu “ nhà nước can thiệp tối thiểu ” trong luật tô tụng dân sự, một câu ngạn ngữ Pháp có nói về quyền tự định đoạt, " Ở đất nước này, đương sự là người làm chủ tổ tụng” với câu nói trên đã thể hiện rõ tư cách của các bên trong tố tụng dân sự lúc bấy giờ. Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp đủ để đại diện cho hệ thống luật dân sự viết " Trừ khi luật có quy định khác, chỉ bên liên quan mới có thê khởi kiện.
Các bên có quyền tự do dừng vụ kiện trước khi Tòa án xét xử" vụ án có thể chấm dứt theo quy định của pháp luật Do đó, quyền chủ động khởi kiện thuộc về các bên. Trong thế kỷ 20, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã được ra đời, đây là văn kiện quốc tế đặt ra các quyền con người được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 ở Cung Chaillot tai Paris, Pháp. " Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khang định các 14 quyên con người là các quyên tự nhiên, vôn có và không thê chuyên nhượng của các cá nhân" " Theo Điều 17 của bản tuyên ngôn ". Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hin hiệp với người khác; không ai có thé bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán”.
Quyền định đoạt được đầy đủ nó phải gan lién với quyền sở hữu tư nhân, có thé thấy sở hữu tư nhân hay quyền tư hữu là thiêng liêng, rat đơn giản: đó là một trong những điều kiện cơ bản dé một cá nhân làm chủ mình và làm chủ cộng đồng. Theo tuyên ngôn độc lập Hợp chủng quốc gia Hoa Kỳ ( My) va Hiến pháp của hợp chủng quốc gia Hoa Kỳ (1877) cũng thé hiện quyền của con người, quyền tự định đoạt “ Tat cả mọi người déu sinh ra có quyền bình đăng. Tạo hóa cho họ những quyên không ai có thể xâm phạm được, trong những quyên ấy có quyên được sống, quyên tự do và quyên mưu cau hạnh phúc. Hién pháp nước Mỹ cũng đã ghi nhận rõ ràng, quyền của con người khi được sinh ra được quyền bình đăng, quyền được tự do, quyền được mưu cau hạnh phúc, nói rộng ra là quyền tự quyết, quyền tự định đoạt của mình.
Ngày nay có nhiều khái niệm của nhiều tác giả quyền tự định đoạt của đương sự. Theo Tiến sĩ Nguyễn Bích Thảo, Đại học Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội có đưa ra quan điểm [70] "quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự có thé hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp: “đó là quyền tự quyết định quyền, lợi ích dân sự của các đương sự với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung”.TS Phạm Hữu Nghị lại có quan điểm [92] “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là sự phản ảnh của quyền tự định đoạt của các chủ thé trong mối quan hệ dân sự”.