Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được xây dựng dựa trên bối cảnh thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng. Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật theo Điều 16 Hiến pháp năm 2013 và nhu cầu chuyên môn hóa trong giải quyết tranh chấp dân sự, chế định người đại diện theo ủy quyền ngày càng giữ vị trí quan trọng tại Tòa án. Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền (đặc biệt là luật sư và những người có hiểu biết pháp luật) không chỉ hỗ trợ đương sự bảo vệ quyền lợi khi gặp trở ngại về thời gian, sức khỏe hay năng lực pháp lý, mà còn hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử từ năm 2015 đến nay cho thấy hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ này vẫn còn những khoảng trống, thiếu sót và bất cập:

  • Quy định về điều kiện của người đại diện theo ủy quyền chưa bao quát hết các chủ thể có khả năng tác động đến tính khách quan của vụ án (như cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự).
  • Cơ chế ủy quyền cho pháp nhân tham gia tố tụng còn lúng túng giữa quy định tố tụng và luật doanh nghiệp.
  • Phạm vi ủy quyền trong các vụ việc nhân thân gắn liền với tài sản (như thuận tình ly hôn có tranh chấp tài sản) còn nhiều cách hiểu trái ngược.
  • Hình thức văn bản ủy quyền và thủ tục công chứng, chứng thực phát sinh mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.

Từ thực trạng trên, tác giả xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật nội dung liên quan điều chỉnh chế định này.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp, chỉ rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự; các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ đại diện theo ủy quyền.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian và thời gian: Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam tập trung từ thời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực đến năm 2023, kết hợp số liệu, án lệ và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp;
    • Về nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu điều kiện, phạm vi đại diện, quyền và nghĩa vụ, căn cứ xác lập và chấm dứt đại diện theo ủy quyền; đồng thời mở rộng so sánh kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, kết hợp việc khai thác các nguyên tắc tư pháp hiện đại như quyền tiếp cận công lý và nguyên tắc tranh tụng.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nguồn tài liệu sử dụng:

  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (kế thừa BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011); Bộ luật Dân sự năm 2015 (so sánh BLDS năm 2005); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Doanh nghiệp năm 2014 và năm 2020; Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Tố tụng Hành chính năm 2015; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; Thông tư số 01/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp; Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao.
  • Pháp luật nước ngoài: BLTTDS Cộng hòa Pháp năm 1806 (sửa đổi, bổ sung); BLTTDS Liên bang Nga năm 2003; BLTTDS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1991.
  • Nguồn học thuật: Giáo trình Tố tụng Dân sự (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp); các công trình nghiên cứu chuyên sâu của TS. Nguyễn Công Bình, PGS.TS. Phan Hữu Thư, TS. Lê Thu Hà, PGS.TS. Đỗ Văn Đại, cùng hệ thống luận án, luận văn và bài viết học thuật trên các tạp chí chuyên ngành luật.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm pháp lý, cấu thành quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện, cũng như tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật: So sánh giữa BLTTDS năm 2015 với các văn bản trước đây (BLTTDS năm 2004, BLDS năm 2005); đối chiếu giữa pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung; so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật tố tụng của Pháp, Nga, Trung Quốc.
  • Phương pháp phân tích lịch sử: Đánh giá sự phát triển của chế định đại diện theo ủy quyền qua các giai đoạn lập pháp tư pháp Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê, xử lý thông tin thực tiễn: Thu thập, phân loại các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ đề tài:

  • Khái niệm và đặc điểm: Làm rõ khái niệm đương sự (theo khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015) và bản chất của đại diện trong tố tụng dân sự dựa trên nền tảng Điều 134 BLDS năm 2015 (mở rộng chủ thể đại diện gồm cả cá nhân và pháp nhân). Tác giả khái quát 5 đặc điểm cốt lõi của người đại diện theo ủy quyền:
    1. Về chủ thể: Cá nhân phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự (từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự) hoặc pháp nhân có năng lực chủ thể phù hợp.
    2. Quan hệ đại diện được xác lập trên cơ sở phạm vi ủy quyền thỏa thuận giữa các bên.
    3. Mục đích tham gia là thay mặt đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án.
    4. Là kết quả của sự thỏa thuận tự nguyện giữa người đại diện và người được đại diện phù hợp với ý chí của Nhà nước.
    5. Luôn nhân danh đương sự chứ không nhân danh chính mình khi tham gia quan hệ tố tụng, không trực tiếp chịu tác động từ phán quyết của Tòa án (trừ trường hợp kiêm tư cách đương sự khác).
  • Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định:
    • Bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân (thông qua 05 nội dung: Nhà nước pháp quyền, trợ giúp pháp lý, giáo dục đào tạo pháp luật, tiếp cận thông tin pháp luật và hệ thống tư pháp công bằng, hiệu quả).
    • Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự (quy định tại Điều 24 và khoản 20 Điều 70 BLTTDS năm 2015).
    • Bảo đảm người đại diện có đủ năng lực chuyên môn và điều kiện khách quan để bảo vệ đương sự.
    • Phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa pháp luật nội dung (BLDS, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và Gia đình) và pháp luật hình thức (BLTTDS).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu quy định pháp luật của 3 quốc gia:
Quốc gia Văn bản điều chỉnh Quy định về chủ thể & Phạm vi đại diện Cơ chế chấm dứt & Giới hạn thẩm quyền
Cộng hòa Pháp BLTTDS năm 1806 (sửa đổi, bổ sung), Điều 411 - 420 Đương sự chỉ được chọn 01 đại diện (cá nhân hoặc pháp nhân). Giới hạn trong luật sư, thân thích trực hệ/bàng hệ đến hàng thứ 3, người phục vụ riêng/cộng tác đắc lực. Điều 417 quy định người đại diện có quyền hạn đặc biệt để rút đơn, chấp nhận đề nghị, thỏa thuận. Phải thông báo cho Thẩm phán và đương sự khi chấm dứt đại diện.
Liên bang Nga BLTTDS năm 2003, Điều 48 - 54 Cá nhân có đủ năng lực hành vi và có văn bản ủy quyền hợp pháp. Pháp nhân tham gia thông qua người đại diện/cơ quan theo điều lệ. Điều 51 cấm Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên làm đại diện. Điều 54 bắt buộc phải ghi rõ các quyền đặc biệt (ký đơn, hòa giải, rút đơn, kháng cáo) trong văn bản ủy quyền.
CHND Trung Hoa BLTTDS năm 1991 Đương sự có quyền ủy nhiệm 1 đến 2 người (luật sư, người thân thích gần gũi, người do đơn vị/tổ chức xã hội giới thiệu). Phải lập văn bản ủy nhiệm; các quyền thay đổi, từ bỏ yêu cầu tố tụng, hòa giải, kháng cáo phải có sự ủy nhiệm đặc biệt.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định của BLTTDS năm 2015 và các luật chuyên ngành:

  • Về điều kiện của người đại diện:
    • Người đại diện là cá nhân: Phải đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự (Điều 69 BLTTDS) và không thuộc các trường hợp bị cấm tại Điều 87 BLTTDS năm 2015 (có quyền lợi đối lập với người được đại diện; đang là người đại diện theo pháp luật cho đương sự khác có quyền lợi đối lập; cán bộ, công chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công an). Tác giả chỉ ra khoảng trống pháp lý: Điều 87 chưa cấm cán bộ, công chức thuộc cơ quan thi hành án dân sự làm đại diện theo ủy quyền, dễ dẫn tới xung đột lợi ích khi Chấp hành viên tổ chức thi hành bản án.
    • Người đại diện là pháp nhân, tổ chức: Phân tích cơ chế thực hiện đại diện của công ty TNHH có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật (Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020), công ty hợp danh (Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020), và tổ chức đại diện tập thể lao động trong tranh chấp lao động (Điều 85 BLTTDS năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2019). Tác giả phân tích tính chất của việc phân công nội bộ pháp nhân và vấn đề ủy quyền lại theo khoản 1 Điều 546 BLDS năm 2015.
  • Về phạm vi tham gia tố tụng:
    • Căn cứ xác định phạm vi theo Điều 141 BLDS năm 2015 và Điều 86 BLTTDS năm 2015.
    • Vấn đề cấm ủy quyền trong việc ly hôn (khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 và Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014): Phân tích mâu thuẫn thực tiễn giữa việc cấm ủy quyền yêu cầu ly hôn (quyền nhân thân) với việc đương sự có nhu cầu ủy quyền giải quyết phần tranh chấp tài sản chung, nghĩa vụ nợ khi ly hôn hoặc trường hợp đương sự ở nước ngoài.
    • Xử lý hệ quả pháp lý khi vượt quá phạm vi đại diện theo Điều 143 BLDS năm 2015.
    • Phân tích tính pháp lý và thực tiễn của trường hợp một đương sự ủy quyền đồng thời cho nhiều người đại diện.
  • Về quyền và nghĩa vụ tố tụng:
    • Người đại diện thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung văn bản ủy quyền tương ứng với tư cách của nguyên đơn (Điều 71), bị đơn (Điều 72), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Điều 73) trên cơ sở các quyền chung tại Điều 70 BLTTDS năm 2015.
    • Quyền kháng cáo của người đại diện đối với đương sự ở nước ngoài căn cứ theo khoản 3 Điều 272, Điều 474 BLTTDS năm 2015 và văn bản hướng dẫn tại Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016.
  • Về căn cứ phát sinh, chấm dứt và hình thức văn bản ủy quyền:
    • Phát sinh dựa trên sự thỏa thuận và lập văn bản ủy quyền (Điều 135 BLDS, Điều 85 BLTTDS).
    • Thực trạng xung đột về hình thức: BLTTDS năm 2015 không bắt buộc văn bản ủy quyền phải công chứng, chứng thực (ngoại trừ trường hợp ủy quyền kháng cáo theo khoản 6 Điều 272). Tuy nhiên, thực tiễn Tòa án chỉ tiếp nhận văn bản có công chứng/chứng thực.
    • Mâu thuẫn giữa Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (cho phép chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền tham gia tố tụng không có thù lao) và Thông tư số 01/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp (Điều 14 chỉ cho phép chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền trong 04 trường hợp cụ thể, loại trừ việc ủy quyền tham gia tố tụng dân sự).

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Chương 3 tổng kết các vấn đề thực thi và kiến nghị lập pháp:

  • Đánh giá thực tiễn:
    • Kết quả đạt được: Đảm bảo quyền tranh tụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng, nâng cao tỷ lệ hòa giải thành và hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ án nhanh chóng, đúng pháp luật.
    • Vướng mắc, bất cập: Tồn tại tranh chấp về tính hợp pháp của văn bản ủy quyền; sự thiếu thống nhất giữa các Tòa án khi xử lý việc ủy quyền giải quyết tài sản trong vụ án ly hôn; tình trạng vượt quá thẩm quyền đại diện nhưng không được Tòa án phát hiện kịp thời; khó khăn khi xác định tư cách đại diện của pháp nhân khi ủy quyền nội bộ.
  • Nguyên nhân của hạn chế:
    • Nguyên nhân khách quan: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật tố tụng, luật nội dung và văn bản dưới luật; thiếu các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao.
    • Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức pháp luật của một bộ phận đương sự còn hạn chế; một số Thẩm phán áp dụng pháp luật còn máy móc; kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp của một số người đại diện chưa đáp ứng yêu cầu.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện:
    • Bổ sung cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự vào danh sách các chủ thể không được làm người đại diện theo ủy quyền tại Điều 87 BLTTDS năm 2015.
    • Hướng dẫn cụ thể khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 theo hướng: Chỉ cấm ủy quyền đối với quan hệ nhân thân (yêu cầu ly hôn), cho phép ủy quyền giải quyết quan hệ tài sản và nuôi con chung trong vụ án ly hôn.
    • Quy định rõ ràng giá trị pháp lý và điều kiện áp dụng của "Giấy ủy quyền" và "Hợp đồng ủy quyền", sửa đổi sự không thống nhất giữa Thông tư số 01/2020/TT-BTP và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về chứng thực văn bản ủy quyền tham gia tố tụng.
    • Bổ sung quy định chi tiết về cơ chế đại diện của pháp nhân và quyền ủy quyền lại trong nội bộ pháp nhân khi tham gia tố tụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp cụ thể:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học của chế định đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam; làm rõ 5 đặc điểm nhận diện, phân định ranh giới pháp lý giữa đại diện theo ủy quyền trong quan hệ tố tụng với đại diện trong giao dịch dân sự thuần túy.
  • Về mặt lập pháp và đối chiếu thực định:
    • Khóa luận phát hiện và phân tích chi tiết điểm xung đột pháp lý giữa Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp với Nghị định số 23/2015/NĐ-CP liên quan đến thẩm quyền chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền tham gia tố tụng dân sự.
    • Chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 và Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong việc phân định quyền nhân thân và quyền tài sản khi tham gia tố tụng ly hôn.
    • Khẳng định khoảng trống tại Điều 87 BLTTDS năm 2015 khi chưa loại trừ cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự khỏi diện được nhận ủy quyền tố tụng.
  • Về mặt so sánh luật học: Tổng hợp và lập bảng đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Pháp, Nga, Trung Quốc về phạm vi đại diện, quyền hạn đặc biệt và điều kiện chủ thể, cung cấp luận cứ khoa học tham khảo cho việc sửa đổi BLTTDS Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, đề tài tập trung chủ yếu vào các vụ án dân sự thông thường tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm; chưa đi sâu đánh giá toàn diện các thủ tục đặc thù như thủ tục rút gọn, thủ tục giải quyết việc dân sự, hoặc cơ chế đại diện trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế người đại diện theo ủy quyền trong kỷ nguyên số hóa tư pháp (nộp đơn khởi kiện điện tử, tống đạt văn bản tố tụng qua phương tiện điện tử và tham gia phiên tòa trực tuyến).
    • Nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới của người đại diện theo ủy quyền khi xác lập hành vi tố tụng vượt quá phạm vi ủy quyền gây thiệt hại cho đương sự.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự: Nắm vững cấu trúc lý luận, phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và kỹ năng so sánh luật học.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý: Tham khảo trong việc kiểm tra điều kiện chủ thể, tính hợp thức của văn bản ủy quyền, xác định phạm vi ủy quyền và giải quyết các vướng mắc về thủ tục ủy quyền của đương sự ở nước ngoài hoặc pháp nhân.
  • Các nhà lập pháp: Cung cấp cơ sở thực tiễn và luận cứ phục vụ việc sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có được làm người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự không?
Không. Mặc dù khoản 3 Điều 138 BLDS năm 2015 cho phép người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền trong một số giao dịch dân sự, nhưng trong quan hệ tố tụng dân sự, căn cứ Điều 69 BLTTDS năm 2015, người đại diện theo ủy quyền bắt buộc phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự (phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự).

2. Pháp nhân được ủy quyền tham gia tố tụng thực hiện quyền đại diện như thế nào theo Luật Doanh nghiệp năm 2020?
Theo Điều 12 và Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cùng Điều 85 BLTTDS năm 2015, nếu pháp nhân là công ty TNHH có một người đại diện theo pháp luật thì người đó sẽ nhân danh công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng. Nếu công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật thì căn cứ Điều lệ công ty để xác định người đại diện ký hợp đồng và tham gia tố tụng. Trường hợp người đại diện theo pháp luật không thể trực tiếp tham gia, pháp nhân có quyền phân công người khác trong nội bộ thực hiện công việc ủy quyền mà không bắt buộc phải có sự đồng ý của đương sự.

3. Vì sao có sự xung đột về việc chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền tham gia tố tụng dân sự?
Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cho phép chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền nếu việc ủy quyền không có thù lao và không có nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, Điều 14 Thông tư số 01/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp lại giới hạn việc chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền chỉ trong 04 trường hợp cụ thể (nộp/nhận hộ hồ sơ; nhận lương hưu/trợ cấp; nhờ trông nom nhà; vay vốn ngân hàng chính sách). Do đó, văn bản ủy quyền tham gia tố tụng không thuộc 04 trường hợp trên thì cơ quan chứng thực từ chối chứng thực chữ ký, buộc các bên phải thực hiện thủ tục chứng thực hợp đồng/giao dịch.

4. Người đại diện theo ủy quyền có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm thay cho đương sự ở nước ngoài không?
Có, với điều kiện nội dung văn bản ủy quyền hợp pháp có ghi nhận quyền kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 272 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn tại Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, nếu đương sự ở nước ngoài ủy quyền hợp pháp cho người đại diện tham gia phiên tòa sơ thẩm và văn bản ủy quyền có nội dung cho phép kháng cáo, thì người đại diện có quyền nộp đơn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

5. Đương sự trong vụ án ly hôn có được ủy quyền cho người khác giải quyết tranh chấp tài sản không?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng trong "việc ly hôn" do quyền yêu cầu ly hôn gắn liền với nhân thân. Tuy nhiên, đối với các quan hệ tài sản, nghĩa vụ nợ chung phát sinh từ hôn nhân, thực tiễn xét xử chấp nhận việc đương sự ủy quyền cho người đại diện tham gia giải quyết phần tranh chấp tài sản độc lập với yêu cầu ly hôn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Dịu đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam. Tác giả đã phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng BLTTDS năm 2015, đối chiếu với các đạo luật chuyên ngành và kinh nghiệm lập pháp quốc tế để chỉ ra các khoảng trống và mâu thuẫn pháp lý hiện hành. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất trong công trình mang tính khả thi, đóng góp thiết thực vào việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý và nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án.