Chương 1: Những van đề lý luận về yêu cầu phản tố trong tố tụng dan sự. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về yêu cầu phản tổ trong tố tụng dân sự Việt Nam CHUONG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE YÊU CAU PHAN TO TRONG TO TUNG DAN SỰ 1.1 Khái niệm về yêu cầu phản tố “Phản tố” được hiểu là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình (tức là kiện ngược trở lại với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn), nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có yêu cầu chặt chẽ với nhau. “Phản” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng có tính đối lập với yêu cầu khởi kiện nhưng sự đối lập không chỉ bao gồm việc loại trừ trực tiếp yêu cầu của nguyên đơn mà có thể theo hướng bù trừ nghĩa vụ được nêu trong yêu cầu của nguyên đơn. Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiện thành một vụ án dân sự mới.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì phản tố là kiện ngược lại. Một số nhà nghiên cứu về TTDS có quan điểm cho răng khi trở thành người bị kiện (bị đơn) trong một vụ án dân sự, pháp luật ghi nhận bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố. Tuy nhiên trong thực tế lại xảy ra nhiều trường hợp do không biết, không tiếp cận được, hoặc có thể đã biết về quy định này nhưng do chưa hiểu rõ ràng, đầy đủ quy định pháp luật về “phản tố” nên nhiều bị đơn đã bỏ dẫn đến việc quyên lợi hợp pháp của bi đơn trong vụ việc đó không được bảo vệ một cách đảm bảo. Bởi, trong một vụ án dân sự, nếu không có yêu cầu phản tố thì bị đơn là người có trách nhiệm ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cau độc lập; tuy nhiên nếu bị đơn thực hiện yêu cầu phản tố thì bị đơn còn là người đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Vì vậy, sau khi thực hiện phản tố thì bị đơn sẽ chủ động trong việc chứng minh yêu cầu phản tổ của mình dé dao bảo quyên, lợi ích hợp pháp cho chính mình. Quy định về “phản tố” được hình thành, phát triển và hoàn thiện qua các thời kỳ của pháp luật tố tụng dân sự, từ Pháp lệnh số 27-LCT/HDNN8 ngày 07/12/1989 về “Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự” đến Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, sửa đổi bố sung năm 2011 và nay là BLTTDS năm 2015 Pháp lệnh số 27 ngày 07/12/1989 không quy định cụ thê về phản tố, tuy nhiên với những nội dung được nhắc đến tại Điều 20: “Bị đơn có quyền đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn”; Điều 30: “Các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật, tùy theo loại vu án và trên cơ sở lợi ích, mức độ lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà tòa án giải quyết trong vụ án” và Điều 31: “. bị don có yêu cầu đối với nguyên đơn. phải nộp tiền tạm ứng án phí.” thì “yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn” được hiểu chính là yêu cầu “phản tố” và chỉ đối với yêu cầu của nguyên don.
Thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án dân sự trong giai đoạn này khi bị đơn có yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu đó phải được thể hiện bằng văn bản, phải nộp tạm ứng án phí và khi yêu cầu không được chấp nhận thì phải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên, do Pháp lệnh không quy định về thời điểm đưa ra yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn nên không có sự thống nhất khi áp dụng. Đến BLTTDS năm 2004, “phản tố” đã được quy định cụ thé, chỉ tiết tại Điều 176 và Điều 178 về quyền đưa ra yêu cầu phản tố. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 không quy định về thời hạn cuối cùng bị đơn được quyền đưa ra yêu cầu phản tố và vẫn giới hạn về đối tượng mà bị đơn được ra yêu cầu phan tố, cụ thé bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn “Cùng với việc phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiên của mình đôi với yêu cầu của người khởi kiện thì bị đơn có quyền yêu cầu phản tổ đối với nguyên đơn”; quyền đưa ra yêu cau phản tô đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không được quy định.
Phải đến khi sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Luật số 65/2011/QH12) thì yêu cau phản tô của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mới được quy định cu thé và thời hạn cuối cùng đưa ra yêu cầu phản té là “trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử” (Điều 176 BLTTDS 2004 sđ,bs). Tại BLTTDS năm 2015, quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn (Điều 200, 202) cơ bản không thay đổi so với quy định tại BLTTDS năm 2004 sửa đổi b6 sung năm 2011, chỉ có điểm khác - điểm mới, đó là quy định về thời điểm cuối cùng được đưa ra yêu cầu phản tố: "Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tổ trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Mặc dù, bộ luật này đã liệt kê các trường hợp phản tố được chấp nhận tại khoản 2 Điều 200, nhưng vẫn chưa đưa ra được định nghĩa thé nào là phản tố. Do đó, đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau về yêu cầu phản tố của bị đơn.
Dé giải thích về yêu cầu phan tố của bị đơn, trước đây, Điều II Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTPTATC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thâm” có hướng dẫn: “Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng về yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn”. Theo hướng dẫn này thì phản tố chỉ là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn. Đến Điều 12 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTATC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ 10 hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thâm” của BLTTDS năm 2011, hướng dẫn: “Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết”.
Theo hướng dan này thì phản tô không chi là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên don mà còn bao gồm cả việc bị đơn kiện ngược lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Trong pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, khi nguyên đơn khởi kiện bị đơn và đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý, thì Tòa án có trách nhiệm thông báo việc thụ lý vụ án cho bị đơn và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Thông thường khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của nguyên đơn, có ba xu hướng xảy ra đối với bị đơn: (1) Chap nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; (2) Bác bỏ hay phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; (3) Kiện ngược lại nguyên đơn. Trong trong trường hợp nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thé đưa ra yêu cầu độc lập chống lại cả nguyên đơn và bị đơn.
Trong trường hop này, bị đơn có thé kiện ngược lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Như vậy, có thé thấy yêu cầu phản tố của bị đơn chính là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về một yêu cầu có liên quan đến vụ án mà nguyên đơn đã kiện bị đơn. Về bản chất, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được khởi kiện băng vụ án độc lập, tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu phản tô của bi đơn trong cùng vụ án dân sự đã phát sinh trên cơ sở đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ làm cho việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự được nhanh hơn, tiết kiệm chi phí t6 tụng cho ca đương sự và Tòa án. Cân phân biệt yêu câu phản tô với quyên đưa ra ý kiên 11 phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo đó, chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn). Tuy nhiên, yêu cầu phản tố không cùng với yêu cầu của nguyên đơn, mà không cùng với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện hay không cùng với yêu cầu cụ thé mà nguyên đơn khởi kiện bị đơn, vẫn còn là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, bi đơn có thé đưa ra nhiều yêu cầu khác nhau, nhưng không phải yêu cầu nào cũng được coi là yêu cầu phản tố.