CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE NGUYÊN TAC TOÀ ÁN KHÔNG ĐƯỢC TỪ CHÓI THỤ LÝ VỤ VIỆC DÂN SỰ KHI CHƯA CÓ ĐIÊU LUẬT ÁP DỤNG 1. KHÁI NIEM, Ý NGHĨA CUA NGUYEN TAC TOA AN KHONG ĐƯỢC TU CHOI THU LY VU VIỆC DAN SỰ KHI CHUA CO DIEU LUAT AP DUNG 1. Khái niệm nguyên tắc Toa án không được từ chối thu lý vụ việc dân sự khi chưa có điều luật áp dụng Một trong những vấn đề cơ bản, cốt lõi của xã hội nhưng đã không được quan tâm, chú ý đúng mức trong suốt thời gian qua, đó là nếu công lý, quyền con người, quyền công dân, lợi ich cla Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm thì đều có quyền khởi kiện yêu cầu TAND có thâm quyền xem xét, giải quyết!. Khi một cơ quan, tô chức, cá nhân nhận thấy quyên, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết là đó là khi cơ quan, tô chức, cá nhân hiểu và thực hiện quyền được bảo vệ, mặt khác việc thực hiện quyền đó cũng góp phần làm rõ nét đường lỗi của Dang Nhà nước nói chung, vai trò của BLTTDS nói riêng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ich hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Việc khởi kiện đó không chỉ là quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn là van đề liên quan đến nhiệm vụ của Tòa án. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đã cho thấy nhiều trường hợp Tòa án từ chối giải quyết VVDS vì lý do chưa có điều luật để giải quyết. Thực tiễn đó đã cho thấy vô hình chung công lý, quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tô ! Bình luận khoa học Bộ luật Tế tụng dân sự (2017) PGS.TS Trần Anh Tuấn — NXB tư pháp, trang 13. 11 chức, cá nhân đã bị xâm phạm.
Quy định tại Khoản 2 Điều 4 BLTTDS (BLTTDS) 2015 là điều khoản mới và hoàn toàn tương thích với quy định tại khoản 2 Điều 14 BLDS 2015, theo đó quy định: “Téa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hop nay, quy định tại Diéu 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng. ” Áp dụng pháp luật trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng trong giải quyết VVDS là một chế định mới lần đầu tiên được quy định trong pháp luật dân sự và pháp luật TTDS Việt Nam. Tại đoạn 2 Khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015 quy định: “VVDS chưa có điêu luật dé áp dụng là VVDS thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm VVDS đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng”. Hiểu một cách rõ nghĩa hơn thì “VVDS chưa có điều luật để áp dụng được là VVDS phát sinh từ các quan hệ thuộc phạm vi diéu chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm VVDS đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cau Tòa án giải quyết thì chưa có điều luật quy định về quan hệ đó”.
Đôi với VVDS chưa có điều luật để áp dụng, theo quy định tại Điều 5, Điều 6 BLDS năm 2015 và Điều 45 BLTTDS năm 2015 sẽ áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật hoặc áp dụng các nguyên tắc của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công băng để giải quyết. Như vậy, VVDS chưa có điều luật áp dụng dé được Toa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục TTDS cần đáp ứng các điều kiện sau: - VVDS phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. - VVDS không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc không được giải quyết ở Toà án theo thủ tục khác - Tại thời điểm VVDS đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết thì chưa có điều luật quy định về quan hệ đó. 12 Khi VVDS đáp ứng day đủ các điều kiện này thì Toà án phải có trách nhiệm thụ lý, giải quyết VVDS theo thủ tục TTDS.
Khi giải quyết VVDS chưa có điều luật dé áp dụng, Toà án áp dụng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Đó là, các quy phạm của pháp luật TTDS quy định về nguyên tắc xác định thâm quyền của Tòa án, thành phan giải quyết và trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết VVDS, nguyên tắc giải quyết VVDS chưa có điều luật áp dụng (áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật hay áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ và lẽ công bằng) thì còn có cả các quy phạm của pháp luật dân sự quy định về khái niệm và điều kiện áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật hay áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ và lẽ công bang trong giải quyết VVDS chưa có điều luật dé áp dụng. Bởi vay, khi thụ lý giải quyết VVDS chưa có điều luật áp dụng Tòa án phải căn cứ vào cả các quy phạm pháp luật TTDS và các quy phạm pháp luật dân sự. Việc giải quyết VVDS theo trình tự, thủ tục TTDS là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đặt ra yêu cầu tất yếu là tuân thủ pháp luật một cách khách quan.
Như vậy, có thê hiểu nguyên tắc Toà án không được từ chối thụ lý vụ việc dân sự khi chưa có điều luật áp dụng là định hướng, tư tưởng chỉ đạo có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điển có tính định hướng của Nhà nước trong việc thụ lý, giải quyết VVDS khi chưa có điều luật áp dung trong đó xác định một VVDS thoả mãn các điều kiện nhất định do pháp luật quy định thì Toà án phải thụ lý, giải quyết VVDS đó theo thủ tục TTDS, đồng thời Toà án dựa vào các quy định về xác định thẩm quyển của Tòa án; các quy định về trình tự, thi tục thụ lý, giải quyết VVDS và các quy định về áp dụng theo thoả thuận, áp dụng tập quán, áp dụng án lệ, áp dụng tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật và lẽ công bằng để giải quyết VVDS chưa có điều luật áp dụng. Ý nghĩa của nguyên tắc Toà án không được từ chối thụ lý vụ việc dân sự khi chưa có điều luật áp dụng Nguyên tắc Toà án không được từ chối thụ lý vụ việc dân sự khi chưa có điều luật áp dụng ra đời được xem là quy định mới có tính đột phá và mang nhiều lại nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, có thể thấy rằng khi quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm, tranh chấp hoặc cần phải được bảo vệ thì phải có cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp, mẫu thuẫn giữa các đương sự. Do đó, khi các cá nhân, cơ quan, tô chức mong muốn Toa án giải quyết VVDS và bảo vệ quyền lợi của mình thì Toà án không được từ chối với lý do không có căn cứ pháp lý đề giải quyết.
Do vậy nguyên tắc này ra đời được xem là tiến bộ nhằm bảo vệ, tôn trọng các quyền của con người đã được pháp luật và hiến pháp công nhận, là cơ sở dé Tòa án thụ lý, giải quyết các VVDS trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng. Thứ hai, Tòa án nhân dân là cơ quan được giao nhiệm vụ bảo vệ công lý. Bên cạnh ý nghĩa bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý của công dân cũng như bảo đảm việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cả trường hợp VVDS chưa có điều luật áp dụng thì nguyên tắc đó còn ràng buộc trách nhiệm của Tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tổ tụng, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp dé bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ich của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân. Thứ ba, phải khăng định rằng việc quy định nguyên tắc trên đã góp phần hoàn thiện cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ quyền dân sự, bao quát được gần như tuyệt đối mọi tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động đều có thể được giải quyết tại Tòa án.
14 Ngoài những quyền dân sự bị hạn chế theo quy định của luật đã được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật thì tất cả các quyền dân sự khác phải được tôn trọng, bảo vệ. Theo quy định của BLDS và các quy định tại luật khác có liên quan, khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì các chủ thể sẽ tự bảo vệ quyền dân sự hoặc bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thâm quyền được thực hiện, từ đó thé hiện tính hòa giải giữa các bên trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên tính bắt buộc, áp dụng chế tài của biện pháp này không cao. Do vậy thường xảy ra các trường hợp khi các bên chủ thé không tự bảo vệ hoặc đã áp dụng phương thức tự bảo vệ nhưng không hiệu quả thì họ sẽ thực hiện việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thâm quyền sử dụng quyên lực nhà nước dé can thiệp [10, tr26].
Và lúc này phương thức bảo vệ quyền dân sự yêu cầu cơ quan, tô chức có thấm quyên giải quyết trở thành phương thức tối ưu được áp dụng phô biến. Tuy nhiên, do tác động của hội nhập, đôi mới và phát triển, các quan hệ dân sự luôn vận động theo dòng chảy của xã hội, nên dù các nhà làm luật có cố găng tới đâu, làm tốt đến thế nào, dù pháp luật thành văn có cô gang điều chỉnh theo từng thời điểm đến đâu thì cũng sẽ không thé hoản chỉnh, hoàn thiện và bao quát hết mọi quan hệ dân sự phát sinh trong đời sống xã hội hàng ngày.