Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giá cả và chất lượng sản phẩm Mục tiêu và nội dung chính của chương Chương | đề cập tới hai cơ sở lý luận: 1) Lý thuyết về giá cả và chất lượng sản phẩm: Phan này đề tai dé cập tới những khái niệm, đặc trưng, vài trò, và các yếu tố ảnh hưởng tới giá cả và chất lượng của một sản phẩm. Đây là những cơ sở lý luận phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, giải thích các hiện tượng được đề cập trong chương 2. Một số phương pháp định giá và các khâu trong quản trị chất lượng sản phẩm cũng được đưa ra dé làm tiền đề cho việc đưa ra các giải pháp trong chương 3; 2) Lý thuyết hồi quy tuyến tính và một số mô hình cạnh tranh: Đây là tóm tắt cơ sở lý thuyết đóng vai trò là công cụ để phân tích, kiêm định sự ảnh hưởng của yếu tố giá cả và chất lượng sản phẩm trong chương 2 của đề tài. Khái niệm về giá Theo học thuyết giá trị thì giá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện nhiều mối quan hệ lớn trong nén kinh tế.
Theo quan niệm của người mua thì giá cả là số lượng tiền mà họ phải trả để nhận được một số lượng hàng hoá hay dịch vụ nhất định để có thể sử dụng hay chiếm hữu hàng hoá hay dịch vụ đó. Còn theo quan điểm của người bán thì giá cả là phần thu nhập hay doanh thu mà họ nhận được khi tiêu thụ một đơn vi hay sỐ lượng sản phẩm nhất định. Những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một công ty phải đối mặt khi soạn thảo các hoạt động marketing của mình. Đặc trưng của giá cả Giá cả thị trường thì lấy giá trị thị trường làm cơ sở hay giá cả thị trường được hình thành trên cơ sở giá thị trường.
Trong đó giá trị thị trường được coi là giá trị trung bình hay mức hao phí lao động xã hội được bình quân hoá cho một đơn vi sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ; mặt khác, trong một số trường hop gia tri thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá chiếm tuyệt đại bộ phận trên thị trường. Giá thị trường được hình thành trong quan hệ mua bán và được hai bên cung cầu chấp nhận, nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp trong hành vi giữa người mua và người bán và sự thừa nhận trực tiếp từ thị trường về những sản phẩm được đưa ra trao đôi. Giá cả là công cụ dé giải quyét những mâu thuẫn về lợi ích kinh tê giữa người mua và người bán. Bởi vì đôi với người mua thì giá cả là các căn cứ trực tiêp giữa cái được và cái mât khi họ muôn sử dụng hay chiêm hữu nó, còn đôi với người bán, giá cả là căn cứ trực tiếp đến doanh thu hoặc thu nhập.
Vai trò của giá cả Với tư cách là một công cụ và là bộ phận trong chính sách marketing-mix của doanh nghiệp, giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các hoạt động và đạt tới những mục tiêu nhất định. Hơn thế nữa, trong điều kiện thị trường có sức mua bán hạn chế thì giá cả là công cụ cạnh tranh quan trọng. Giá cả cũng là một trong những yếu tố linh động nhất của hệ thống marketing-mix, trong đó giá cả có thé thay đổi nhanh chóng, không giống như các tính chất của sản phẩm và những cam két của kênh. Đối với nhà doanh nghiệp, giá cả là yếu tố quyết định về mức độ lẫn khả năng bù đắp chi phí sản xuất và có thé đạt đến mức độ lợi nhuận nhất định.
Giá cả là căn cứ quan trong dé giúp cho doanh nghiệp có phương án kinh doanh và là một tái hiện quan trọng giúp cho doanh nghiệp nhận biết và đánh giá các cơ hội kinh doanh. Vì vậy, việc định giá và cạnh tranh giá cả là vấn đề quan trọng đặt ra cho các nhà quản trị marketing. Dù vậy nhiều công ty vẫn không xử lý tốt việc định giá. Sau đây là những sai lầm phổ biến nhất: 1) Việc định giá hướng quá nhiều vào chi phí; 2) Giá không được rà soát lại thường xuyên dé thích ứng với những biến động của thị trường; 3) Gia được ấn định độc lập với phần còn lại của marketing mix, chứ không như một yêu tô nội tại của của chiên lược xác định vị trí trên thị trường; 4) Giá không được thay đổi linh hoạt đúng mức đối với những mặt hàng khác nhau, những khúc thị trường khác nhau và những thời điểm mua sắm khác nhau.
Đôi với người tiêu dùng, giá tác động như một yêu tô quyét định việc lựa chon của người mua. Giá cả còn là yêu tô đánh giá sự hiệu biét của người mua về sản phâm mà họ mua. Giá hàng hoá là chỉ sô đánh giá phân được và chi phí người mua phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá. Những nhân tố ảnh hưởng tới giá xuất khẩu Trong Marketing xuất khẩu, giá cả xuất khâu chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chỉ phí, điều kiện thị trường, sự cạnh tranh, chính trị, luật pháp, chính sách xuất khẩu.
Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến một số yêu tố liên quan và coi các yếu tô khác là không đôi. a) Chỉ phí Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiệu bằng tiền của tất ca chi phí sản xuất, chi phí lưu thông (chi phí tiêu thụ sản phẩm) va các khoản chi phí khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong một thời kỳ nhất định. Chi phí là cơ sở cho việc hình thành giá cả, hay nói cách khác chi phí quyết định mức giá tối thiểu (giá sàn). Việc định giá sản pham phải đảm bảo thu hồi được chỉ phí để thỏa mãn mục tiêu lợi nhuận, phòng ngừa và bù đắp những rủi ro có thể.
Nếu chi phí của doanh nghiệp cao hơn chi phí của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì doanh nghiệp hoặc phải định giá cao hơn của đối và chịu mất lợi thé cạnh tranh về giá, hoặc phải định giá bằng hay thấp hơn va chấp nhận lãi ít hơn. b) Nhu cầu thị trường Nhu câu của thị trường là yếu tổ ảnh hưởng đặt biệt quan trọng tới việc định giá. Bản thân giá thị trường được hình thành do tác động cân bằng cung cầu. Nếu như chi phí quyết định mức giá tối thiểu thì nhu cầu quyết định mức giá tối đa (giá trần) là giá mà khách hàng sẵn sàng chi trả cho sản phẩm mà họ cần.
Vì vậy, định giá sản phẩm phụ thuộc vào sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm, khách hàng sẽ không mua sản phâm có giá cao hơn giá trị mà họ nhận được. Khi nghiên cứu yếu tố nhu cầu trong định giá thì cần quan tâm tới 3 yếu tố là: 1) Mối quan hệ giữa giá cả và nhu cầu: Mức cầu thay đổi tỷ lệ nghịch với giá cả (trừ trường hợp có yếu tố độc quyên trong sản phẩm); 2) Sự co giãn của cầu theo giá (sự nhạy cảm về giá); 3) Các yếu tố tâm lý của khách hàng như: Khách hàng thường thừa nhận mối quan hệ giữa giá cả và chất lượng như giá càng cao thì chất lượng càng cao, đặc biệt là với những sản phẩm cao cấp; Khách hàng thường không nhìn nhận giá cả một cách tuyến tính mà nhìn nhận theo ngưỡng. c) Sự cạnh tranh Mặc dù chi phí quyết định giá sàn, nhu cầu quyết định giá trần, song khi định giá bán san phâm doanh nghiệp không thé bỏ qua những thông tin về giá cả và phản ứng về giá cả của đối thủ cạnh tranh. Do vậy, sự cạnh tranh quyết định giá cả thực sự nằm ở đâu giữa hai giới hạn đó.
Ảnh hưởng của sự cạnh tranh tới giá cả thê hiện ở những khía cạnh là: 1) Tương quan so sánh giữa giá của các đối thủ cạnh tranh với giá của doanh nghiệp; 2) Mối tương quan giữa giá cả và chất lượng sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh; 3) Đối thủ cạnh tranh sẽ phản ứng giá ra sao với những thay đôi về giá mà doanh nghiệp sẽ áp dụng. Phương pháp định giá xuất khẩu cơ bản Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với chính sách định giá và không có một chính sách tối ưu hoặc các phương pháp sẵn có dé áp dụng cho moi tình huống hoặc ở một số thị trường nước ngoài nào đó. Chính sách định giá là một vấn đề làm thế nào càng có nhiều thông tin càng tốt về giá trị sản phẩm đối với nhiều tầng lớp người tiêu dùng (khách hàng) khác nhau ở các thị trường khác nhau. Với nguồn thông tin có được và sự áp dụng một cách thông minh, mối nguy hiểm của việc định giá xuất khâu của công ty đối với các thị trường có lợi nhuận tiềm năng được giảm đáng kể.
Định giá hớt kem (Skimming pricing) 10 Định giá hot kem là chính sách định giá cao, giúp nhà xuất khâu đạt mức lời cao trong một thời hạn nhất định, định giá hớt kem là cách định giá cao trong thời gian đầu, sau đó hạ giá dé thu hút thị phần mới. Phương pháp định giá cao gây ấn tượng sản phẩm có chất lượng. Điều kiện dé áp dụng phương pháp này là: 1) Đường cầu không co giãn theo giá; 2) Không có nguy cơ giá cao sẽ kích thích những đối thủ cạnh tranh nhảy vào thị trường; 3) Sản phẩm phải độc đáo mới lạ. Định giá thâm nhập (penetration pricing) Định giá thâm nhập là cách định giá hàng thấp hon giá phổ biến trên thị trường thế giới nhằm đề mở rộng thị phần.
Công ty sẽ thu lơi nhuận qua việc chiếm ưu thé trên thị trường và trong những trường hợp nhất định, người ta có thé xác định giá thấp hơn chi phí. Phương pháp này có một hạn chế là sau này rất khó tăng giá sản phẩm trở lại vì người tiêu đùng đã quen với giá thấp. Lý do để định giá thấp mà vẫn thu được lợi nhuận trong phương diện kinh doanh dài hạn được thể hiện như hình dưới: Lợi thế về giá Phát triển thị phan Giá thấp Giam chi phí 1 Gia tang hiệu qua đơn vị sản phẩm kinh doanh Hình 1.