Chương 1 TỔNG QUÁT VỀ HÀNH VI PHÁP LÝ VÔ HIỆU TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁ SẢN 1. Sự cần thiết quy định các hành vi pháp lý vô hiệu trong pháp luật về phá sản 1. Khái luận về phá sản nhìn từ góc độ sự cần thiết phải vô hiệu hóa một số hành vi pháp lý 1. Khái niệm phá sản và pháp luật phá sản Khi tham gia kinh doanh, mọi thương nhân đều có chung một mục đích là tối đa hóa lợi nhuận cho nên cạnh tranh là tất yếu, và trong quy luật cạnh tranh khốc liệt ấy thì tất có người được, kẻ mất.
Quy luật thị trường cũng ẩn chứa đầy rủi ro khó lường, mặc dù mọi thương nhân đều cố gắng hạn chế thấp nhất rủi ro và thua lỗ nhưng vấn đề phá sản ắt xảy ra, đó là hiện tượng khách quan, phản ánh sự vận động và phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường. Phá sản có thể nói là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Nó không xuất hiện trong nền kinh tế kế hoạch hóa bởi ở đó có sự thủ tiêu cạnh tranh. TS Dương Đăng Huệ nhận định "Phá sản đã có từ lâu, nhưng với tư cách là một hiện tượng phổ biến thì nó chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường" [9, tr.
Cạnh tranh là nhân tố gần như duy nhất sản sinh ra hiện tượng phá sản. Nó loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn yếu kém ra khỏi đời sống kinh doanh. Một mặt phá sản gây xáo trộn nhất định cho những người có liên quan (như các chủ nợ, bản thân con nợ, người lao động, khách hàng…). Nhưng mặt khác phá sản giúp ""cơ cấu lại" nền kinh tế, góp phần duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh" [29, tr.
Có thể nói phá sản vừa có mặt tích cực, lại vừa có mặt tiêu cực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở mặt có lợi của phá sản, người ta thiết lập các qui định tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở thủ tục phá sản. Nhưng ở mặt bất lợi của phá sản, người ta phải thiết lập các qui định để loại bỏ hay hạn chế sự ảnh hưởng của phá sản đến những người khác và cộng đồng. Chính vì vậy, để cải thiện môi trường kinh doanh lành mạnh, nhà nước cần thiết ban hành quy chế pháp lý đặc biệt nhằm can thiệp, kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản nhằm tạo ra hành lang an toàn, thuận lợi, có hiệu lực thực tế, thực sự là công cụ hữu hiệu để giải quyết mối quan hệ nợ nần đặc biệt giữa chủ nợ và con nợ, đồng thời để đảm bảo sự công bằng của các chủ nợ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ thể khác có liên quan cũng như của chính con nợ và những hệ quả pháp lý của nó.
Vô hiệu hóa các hành vi pháp lý mà doanh nghiệp bị phá sản tham gia là một điển hình của sự cố gắng của pháp luật đối với việc loại bỏ hay hạn chế tác động xấu của doanh nghiệp bị phá sản đến những người khác. Theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn. Theo Từ điển tiếng Việt, "phá sản" là "lâm vào tình trạng tài sản không còn gì và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại" [32, tr. 762]; "vỡ nợ" là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ.
Thuật ngữ phá sản đã được "hình thành, bắt nguồn từ chữ "ruin" trong tiếng Latin - có nghĩa là sự khánh tận- tức là mất khả năng thanh toán" [24, tr. Như vậy, khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp. Biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối này là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn (insolvency). Việc tiếp nhận hiện tượng này có sự biến đổi theo thời gian.
Trước hết nó áp dụng cho sự mất khả năng trả nợ của thương nhân. Nên thông thường nó được xem là một qui chế gắn với đời sống thương mại. Thuật ngữ "phá sản" tuy đã được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ hàng ngày và trong khoa học pháp lý song cho đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nay vẫn chưa được chính thức giải thích trong các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta. Thay vào đó, thuật ngữ "tình trạng phá sản" được sử dụng và giải thích.
Theo khuynh hướng này, Điều 3, Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam định nghĩa: "Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản" [19]. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, "tỉ lệ rủi ro của các doanh nghiệp là 1/4, có nghĩa cứ đầu tư thành lập 100 doanh nghiệp thì sẽ có khoảng 25 doanh nghiệp bị phá sản, thậm chí bị phá sản ngay từ khi mới thành lập" [29, tr. Để kiểm soát vấn đề phá sản và phát huy những tích cực của nó, đồng thời kiềm chế mặt tiêu cực của nó. Tại khoản 1, Điều 5, Luật phá sản Việt Nam qui định bốn thủ tục bao gồm: a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản [19].
Vậy có thể nói pháp luật về phá sản là tập hợp các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tiến hành chấm dứt hoạt động trên thực tế, và rút khỏi thương trường một cách có trật tự. Xét ở khía cạnh khác, pháp luật về phá sản là pháp luật tổ chức việc đòi nợ tập thể của các chủ nợ đối với con nợ. Việc đòi nợ như vậy có các đặc điểm sau: (1) Là cách thức đòi nợ tập thể; (2) Là cách thức chấm dứt hoạt động của con nợ hoặc giúp con nợ phục hồi. Do vậy, về bản chất pháp luật về phá sản bao gồm tổng thể các quy định bảo đảm cho các đặc điểm trên của cách thức lấy nợ đặc biệt này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TS Dương Đăng Huệ cho rằng "thủ tục phá sản- một thủ tục pháp lý có tính cách tổng hợp" [9, tr. Và dĩ nhiên trong đó bao gồm cả các quy định liên quan tới vô hiệu hóa một số hành vi pháp lý mà con nợ tham gia. Các chủ thể chủ yếu của luật phá sản liên quan tới sự vô hiệu các hành vi pháp lý trong pháp luật về phá sản Trong luật phá sản thông thường xuất hiện các chủ thể sau: Con nợ, chủ nợ, hội nghị chủ nợ, tòa án và quản tài viên.
Con nợ là chủ thể của pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà đã bị tòa án quyết định mở thủ tục phá sản. Chủ nợ là chủ thể của pháp luật phá sản là các chủ nợ của con nợ đã bị mở thủ tục phá sản và đã có tên trong danh sách chủ nợ. Hội nghị chủ nợ là một tập hợp các chủ nợ đã được lập ra theo qui định của pháp luật để tiến hành các thủ tục theo qui định của pháp luật phá sản. Quản tài viên là một thuật ngữ được sử dụng trong luật phá sản dưới các chế độ cũ.
Hiện nay theo pháp luật Việt Nam thay thế định chế quản tài viên bằng một định chế khác được gọi là Tổ quản lý, thanh lý tài sản mà tổ này do tòa án ra quyết định thành lập đồng thời với việc quyết định mở thủ tục phá sản. Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản có chức năng tương tự như định chế cũ nhưng mang nhiều khiếm khuyết, bởi bản thân nó không phải là một thể nhân, mà cũng không phải là pháp nhân, nhưng lại có rất nhiều quyền và nghĩa vụ. Đối với các hình thức công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn (như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn), và hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, thì kể từ thời điểm bị tuyên bố phá sản, các thành viên của các doanh nghiệp này thoát khỏi gánh nặng nợ nần đối với các chủ nợ có liên quan dù còn nợ hay không. Nhưng đối với các loại hình công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn (như công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty hợp vốn cổ phần) và doanh nghiệp tư nhân, thì gánh nặng nợ nần vẫn theo đuổi các thành viên của nó theo các qui chế được thiết lập bởi pháp luật phá sản của từng quốc gia.
Do vậy chủ thể của luật phá sản không thể không kể tới các thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên chịu trách nhiệm vô hạn của các hình thức công ty nói trên và chủ doanh nghiệp tư nhân. Các loại chủ thể này có các quyền và nghĩa vụ khác nhau do vị thế của họ tạo ra. Tuy nhiên đề tài luận văn này không đi sâu vào phân tích các loại chủ thể này mà chỉ đề cập chủ yếu tới con nợ và Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản liên quan tới vấn đề vô hiệu hóa các hành vi pháp lý trong phá sản. Từ xưa tới nay đa phần con nợ muốn tìm cách trốn tránh trách nhiệm trả nợ.
Cách thức chủ yếu của việc trốn tránh trách nhiệm trả nợ là tẩu tán tài sản bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong khi đó Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản có trách nhiệm luật định là thay mặt cho các chủ nợ để kiểm soát con nợ. Vì vậy con nợ lâm vào tình trạng phá sản và Tổ quản lý, thanh lý tài sản phá sản là hai chủ thể chủ yếu cần phải đề cập tới ở đây. Hành vi của con nợ lâm vào tình trạng phá sản cần phải vô hiệu Trên thực tế, không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thực hiện các hành vi nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn nợ hoặc để trốn tránh trách nhiệm trả nợ đối với nhà nước, các tổ chức, cá nhân.
Thậm chí có doanh nghiệp ngay từ khi thành lập, hay trước khi lâm vào tình trạng phá sản đã thực hiện các hành vi tẩu tán tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ.