Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Minh Thái, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Anh Sơn, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9 38 01 07) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, năm 2022).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, sự tích tụ tư bản đóng vai trò cốt lõi thúc đẩy quy mô sản xuất và tiêu dùng. Bên cạnh các tài sản hữu hình truyền thống, tài sản vô hình — đặc biệt là tài sản sở hữu trí tuệ và nhãn hiệu — ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, trở thành thước đo hiệu quả kinh doanh, uy tín và năng lực cạnh tranh.
Tại Việt Nam, quyền góp vốn bằng tài sản vô hình đã được ghi nhận từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (khoản 1 Điều 2), tiếp tục được khẳng định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020. Tuy nhiên, hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu trên thực tế vẫn còn hạn chế và chưa phổ biến. Nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn và chồng chéo giữa các quy định pháp luật liên quan (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự, chuẩn mực kế toán - kiểm toán), đặc biệt là các vướng mắc trong xác định tư cách tài sản góp vốn, điều kiện chủ thể, cơ chế định giá quyền sở hữu và quyền sử dụng nhãn hiệu, thủ tục chuyển giao, hạch toán kế toán và xử lý tài sản khi chấm dứt góp vốn. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu mang tính cấp thiết khoa học và thực tiễn cao.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận khoa học pháp lý toàn diện và chuyên sâu về góp vốn bằng nhãn hiệu; phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn vận hành khung pháp luật tại Việt Nam; từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khung pháp luật trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 04 nhiệm vụ cụ thể):
- Một là: Giới thiệu toàn diện, chuyên sâu kiến thức lý luận cơ bản và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận khoa học pháp lý về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu.
- Hai là: Thực hiện sự so sánh đầy đủ khung pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau để phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu hiện nay.
- Ba là: Phân tích tình huống và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu.
- Bốn là (Cuối cùng): Đề xuất các giải pháp hợp lý, khoa học nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng nhãn hiệu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, luận cứ khoa học, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu, thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế, xem xét các mối quan hệ pháp lý phát sinh từ hành vi góp vốn bằng nhãn hiệu trong tương quan giữa pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư, pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật dân sự Việt Nam trong bối cảnh hệ thống văn bản pháp luật hiện hành (Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế và trong nước
Luận án đã khảo cứu và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung cụ thể:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố |
Nội dung chính được trích xuất |
| Nghiên cứu quốc tế về nhãn hiệu và thực thi quyền SHTT |
- Frederick W. Mostert (1997, tái bản 2004), Famous and Well–Known Marks - An international analysis, NXB Toronto Butterworth. - Jeremy Phillips (2004), Trademark Law: A Practical Anatomy, NXB Oxford. - Xuan Li & Carlos M. Correa (2009), Intellectual Property Enforcement International Perspectives, NXB Edward Elgar Publishing. - Shahid Alikhan (2011), Socio-economic benefits of intellectual property protection in developing countries, NXB Kluwer Law International BV. |
Phân tích tiêu chí nhãn hiệu nổi tiếng, cơ chế bảo hộ, xu hướng thiết lập tiêu chuẩn thực thi quyền SHTT cao hơn TRIPS (TRIPS cộng), vai trò kinh tế - xã hội của bảo hộ nhãn hiệu tại các quốc gia đang phát triển. |
| Nghiên cứu quốc tế về định giá nhãn hiệu và tài sản vô hình |
- Christopher Heath & Kung–Chung Liu (2000), The protection of well-known marks in Asia, NXB Kluwer Law International. - John E. Elmore (2015), bài viết trên tạp chí Insight. - IVSC & RICS (2020), Valuation of intellectual property rights. - Leger Robic Richard (1999); Jacques A. Leger & Barry Gamache (2006); XIA Qing. |
Đưa ra các yếu tố và phương pháp định giá tài sản vô hình/nhãn hiệu, giải quyết vấn đề chuyển giá, xác định giá trị sử dụng còn lại của nhãn hiệu và so sánh tiêu chuẩn kiểm tra nhãn hiệu giữa các hệ thống pháp luật (Hoa Kỳ, Châu Âu, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc). |
| Nghiên cứu trong nước về SHTT và góp vốn nói chung |
- Nguyễn Bá Diến (2010, 2011), ĐHQGHN. - Phan Ngọc Tâm (2011), Luận án TS, ĐH Luật TP.HCM. - Dương Thị Thu Nga (2014), Luận văn ThS, Khoa Luật - ĐHQGHN. - Hồng Vân (2009); Sỹ Hồng Nam (2016), Luận án TS, Học viện KHXH. - Phạm Tuấn Anh (2009); Nguyễn Thanh Tùng (2017); Đặng Minh Phương (2018); Phùng Quốc Hiển (2020); Nguyễn Thị Dung (2010); Đỗ Quốc Quyên (2010); Bùi Minh Thanh & Lê Thị Tuyết Hà (2019). |
Nghiên cứu tổng thể khung pháp luật bảo hộ và thực thi quyền SHTT, góp vốn thành lập doanh nghiệp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, các bất cập về xác định loại tài sản góp vốn, trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn thực tế theo Luật Doanh nghiệp. |
| Nghiên cứu trong nước trực tiếp về góp vốn bằng TSTT và nhãn hiệu |
- Phạm Đức Quảng (2011), Luận văn ThS, ĐHQGHN. - Đoàn Thu Hồng (2012), Luận văn ThS, ĐHQGHN. - Tạ Thị Thanh Thủy (2012), Luận văn ThS, ĐHQGHN. - Hà Thị Doánh (2013), Luận văn ThS. - Đào Thị Dung (2016); Nguyễn Ngọc Mai (2016); Bùi Thị Thúy (2018), Luận văn ThS, ĐHQGHN. - Nguyễn Hồng Vân (2017), Tạp chí Hoạt động Khoa học. - Lê Đức Hiển & Trương Quốc Hưng (2017), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. - Võ Quốc An (2019), Thời báo Kinh tế Sài Gòn online. |
Làm rõ điều kiện, thủ tục góp vốn, bất cập trong hợp đồng góp vốn, định giá quyền sử dụng nhãn hiệu, hạch toán kế toán và xử lý tài sản nhãn hiệu khi doanh nghiệp giải thể hoặc hết thời hạn bảo hộ. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề ở phạm vi hẹp (luận văn thạc sĩ hoặc bài báo khoa học), hoặc nghiên cứu góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền sử dụng đất, hoặc phân tích trong bối cảnh các văn bản pháp luật cũ (Luật Doanh nghiệp 2005/2014, Bộ luật Dân sự 2005). Luận án xác định bốn (04) khoảng trống lý luận và thực tiễn cần giải quyết:
- Hệ thống hóa đầy đủ, chuyên sâu các vấn đề lý luận về góp vốn bằng nhãn hiệu đặt trong mối quan hệ giữa quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu với pháp luật về tài sản, bảo đảm tính minh bạch và thống nhất.
- Nghiên cứu chuyên sâu các nội dung pháp lý đặc thù: xác định quyền góp vốn, hai hình thức góp vốn (chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng), điều kiện nhãn hiệu đem góp vốn, cơ chế định giá và xử lý tài sản khi kết thúc hợp đồng góp vốn.
- Đánh giá toàn diện thực trạng và vướng mắc thực thi pháp luật đa ngành trong bối cảnh các đạo luật mới phát sinh hiệu lực (Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi).
- Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế, đặc biệt từ các nền kinh tế chuyển đổi, nhằm tìm kiếm giải pháp tương thích với điều kiện thể chế của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng sáu (06) nền tảng lý thuyết khoa học pháp lý và kinh tế - xã hội:
- Lý thuyết về tự do kinh doanh: Ghi nhận quyền tự do lựa chọn hình thức, phương thức đầu tư kinh doanh của công dân từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013; vận dụng để khẳng định quyền tự chủ của chủ thể trong việc đưa nhãn hiệu vào hoạt động góp vốn và định giá nhãn hiệu.
- Lý thuyết về tự do hợp đồng: Nguyên tắc nền tảng điều chỉnh quan hệ hợp đồng và thỏa thuận góp vốn bằng nhãn hiệu giữa các chủ thể kinh doanh, gắn với các giới hạn luật định.
- Lý thuyết về thương mại cân bằng và hợp lý: Đặt trên nền tảng đối thoại, minh bạch và tôn trọng lợi ích giữa bên góp vốn và bên nhận góp vốn, vận dụng trực tiếp vào việc giải quyết các tranh chấp và xác lập cơ chế định giá nhãn hiệu.
- Lý thuyết về quyền sở hữu: Làm cơ sở luận giải việc chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu hoặc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho doanh nghiệp nhận vốn góp.
- Lý thuyết về tính thực dụng và giá trị kinh tế của nhãn hiệu: Tiếp cận quyền sở hữu trí tuệ như động lực sáng tạo có giá trị kinh tế thương mại hóa được, cho phép nhãn hiệu vận hành như một đối tượng tài sản độc lập trong giao lưu dân sự.
- Lý thuyết về công khai, minh bạch: Vận dụng vào thủ tục đăng ký quyền sở hữu công nghiệp và công khai thông tin doanh nghiệp nhằm hạn chế rủi ro pháp lý cho các bên thứ ba.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Câu hỏi chung: Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu bao gồm những nội dung nào? Khung pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động góp vốn này đã đảm bảo được nhu cầu của các chủ thể có liên quan và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế hiện nay hay không? Việc điều chỉnh, bổ sung khung pháp luật này được dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nào, cũng như dựa trên những kinh nghiệm nào của các nước?
- Năm câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Bản chất của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu là gì? Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động này hiện nay tại Việt Nam?
- Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu như thế nào khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền góp vốn, điều kiện thực hiện hoạt động góp vốn, vấn đề định giá và thủ tục góp vốn?
- Giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện các quy định của pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu trong giai đoạn hiện nay liên quan đến quyền góp vốn, điều kiện thực hiện hoạt động góp vốn, vấn đề định giá và thủ tục góp vốn?
- Thực tiễn hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại một số nước (điển hình) trên thế giới như thế nào và đem lại những kinh nghiệm gì đối với thực tiễn hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay?
- Những định hướng và giải pháp cơ bản để xây dựng, hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí tuệ và các nguồn luật khác có liên quan?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Góp vốn bằng nhãn hiệu là hành vi pháp lý do nhà đầu tư chủ động thực hiện nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh được Nhà nước bảo hộ; do tính chất là tài sản vô hình (quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng), pháp luật điều chỉnh hoạt động này có sự khác biệt bản chất so với góp vốn bằng tài sản hữu hình.
- Giả thuyết 2: Quan hệ góp vốn bằng nhãn hiệu chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, đầu tư, kế toán, kiểm toán; tính chất đa ngành này đòi hỏi khung pháp lý phải được thiết kế đồng bộ và thống nhất.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích khái niệm, thuộc tính pháp lý, thực trạng quy định và tổng hợp các giải pháp.
- Phương pháp so sánh luật học: Kết hợp so sánh chức năng, so sánh quy phạm và so sánh lịch sử giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Châu Âu, TRIPS, Công ước Paris, Hiệp định Madrid, CPTPP, BTA Việt - Mỹ).
- Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp bố cục logic giữa các chế định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Sở hữu trí tuệ.
- Phương pháp lịch sử: Phân tích tiến trình lập pháp điều chỉnh nhãn hiệu tại Việt Nam (Nghị định 175-TTg năm 1958, Nghị định 197/HĐBT năm 1982, Bộ luật Dân sự 1995, 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005).
- Phương pháp phân tích - dự báo khoa học và khảo sát thực tế: Đánh giá số liệu, tình huống thực tế áp dụng tại Chương 4 để đưa ra các định hướng hoàn thiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về nhãn hiệu, định giá nhãn hiệu và hoạt động góp vốn bằng tài sản sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở chỉ ra 04 khoảng trống nghiên cứu cơ bản, chương này xây dựng khung lý thuyết gồm 06 lý thuyết trụ cột (tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, thương mại cân bằng, quyền sở hữu, giá trị kinh tế của nhãn hiệu, công khai minh bạch), đồng thời thiết lập hệ thống 01 câu hỏi chung, 05 câu hỏi cụ thể và 02 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và góp vốn bằng nhãn hiệu
Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm nhãn hiệu: Phân tích lịch sử pháp luật từ Đạo luật năm 1266 của Quốc hội Anh, Đạo luật Lanham của Hoa Kỳ (Mục 1052), định nghĩa của WIPO, khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS, khoản 1 Điều 6 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đến quá trình lập pháp tại Việt Nam (Nghị định 175-TTg ngày 03/04/1958, Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982, Điều 785 Bộ luật Dân sự 1995, khoản 16 Điều 4 và Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Tác giả chỉ ra sự bất cập giữa khoản 16 Điều 4 và Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ khi giới hạn nhãn hiệu ở "dấu hiệu nhìn thấy được", đề xuất khái niệm mở rộng bao gồm dấu hiệu phi thị giác (âm thanh, mùi vị) phù hợp với Điều 18.18 Hiệp định CPTPP.
- Quyền và nguyên tắc góp vốn bằng nhãn hiệu: Phân tích quyền tài sản của chủ sở hữu nhãn hiệu, các nguyên tắc tự do thỏa thuận, bảo toàn vốn điều lệ, trung thực và minh bạch.
- Hình thức, định giá và thủ tục góp vốn: Làm rõ hai hình thức góp vốn (chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu hoặc chuyển giao quyền sử dụng/li-xăng nhãn hiệu); các phương pháp định giá tài sản vô hình và trình tự thủ tục pháp lý tương ứng.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam:
- Quy định về khái niệm và bản chất tài sản: Đánh giá sự thiếu vắng khái niệm trực tiếp về "góp vốn bằng nhãn hiệu" trong Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Sở hữu trí tuệ, gây lúng túng trong xác định bản chất giao dịch.
- Thời điểm góp vốn: Phân tích quy định thời hạn góp vốn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp so với thời gian thẩm định và đăng ký chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ (thường kéo dài nhiều tháng), tạo ra xung đột pháp lý về thời hạn hoàn thành nghĩa vụ góp vốn.
- Điều kiện đối với nhãn hiệu góp vốn: Rà soát các quy định về nhãn hiệu đang trong quá trình nộp đơn, nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu tập thể/chứng nhận.
- Quy định về định giá tài sản góp vốn: Đánh giá cơ chế tự định giá của các sáng lập viên và định giá thông qua tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp; chỉ ra lỗ hổng pháp lý trong xác định trách nhiệm liên đới khi cố ý định giá sai lệch giá trị thực tế của nhãn hiệu.
- Cấp giấy chứng nhận phần vốn góp: Phân tích thực trạng cấp giấy chứng nhận phần vốn góp dựa trên quyền sử dụng nhãn hiệu và các vướng mắc về hạch toán kế toán tài sản vô hình.
Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp thực thi pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam
Chương 4 kết hợp phân tích thực tiễn thực thi với việc đề xuất các nhóm giải pháp:
- Thực tiễn áp dụng: Phân tích các tranh chấp, vướng mắc phát sinh trong thực tế hoạt động kinh doanh tại Việt Nam khi sử dụng nhãn hiệu để góp vốn thành lập công ty hoặc tăng vốn điều lệ.
- Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ nhằm công nhận rõ ràng cả hai hình thức góp vốn: chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu và góp quyền sử dụng nhãn hiệu có thời hạn.
- Quy định cơ chế đặc thù về thời hạn góp vốn đối với tài sản sở hữu công nghiệp để giải quyết xung đột với quy định thời hạn 90 ngày.
- Hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật và phương pháp định giá tài sản trí tuệ trong hệ thống Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế của IVSC và RICS.
- Hoàn thiện quy định về chế độ kế toán, hạch toán giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu vào tài sản vô hình của doanh nghiệp nhận vốn góp.
- Quy định rõ ràng chế tài và căn cứ xác định trách nhiệm liên đới của các thành viên/cổ đông khi cố ý định giá nhãn hiệu cao hơn giá trị thực tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học pháp lý
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về pháp luật góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam: xác lập khái niệm, đặc trưng, vai trò của hành vi góp vốn bằng nhãn hiệu; phân biệt cụ thể với các hình thức góp vốn bằng tài sản khác; xác định cấu trúc nội dung điều chỉnh của pháp luật gồm chủ thể, đối tượng, hình thức, định giá, hợp đồng, thủ tục đăng ký và cơ chế xử lý nhãn hiệu khi chấm dứt quan hệ góp vốn.
- Bổ sung và phát triển khái niệm khoa học về nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng mở rộng đối tượng bảo hộ sang các dấu hiệu phi thị giác (âm thanh, mùi vị), đáp ứng yêu cầu thực thi các cam kết quốc tế thế hệ mới (CPTPP).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Chỉ rõ các điểm xung đột, khoảng trống và bất cập trong khung pháp luật thực định Việt Nam (giữa Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, Bộ luật Dân sự 2015 và các chuẩn mực kế toán tài sản vô hình).
- Đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ: đề xuất sửa đổi điều khoản cụ thể trong Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ về thời điểm chuyển quyền, cơ chế kiểm soát định giá nhãn hiệu, hợp đồng li-xăng góp vốn và trình tự hạch toán kế toán trong doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý (pháp luật kinh tế, dân sự, sở hữu trí tuệ) đối với đối tượng nhãn hiệu theo phạm vi nội luật Việt Nam và một số hệ thống pháp luật tham chiếu; chưa phân tích sâu các thuật toán tài chính chuyên sâu về mô hình định giá định lượng của từng ngành công nghiệp đặc thù.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh từ giao dịch góp vốn bằng tài sản sở hữu trí tuệ xuyên biên giới, cũng như phân tích tác động của công nghệ số và tài sản trí tuệ số đối với hoạt động góp vốn doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản hướng dẫn thi hành về đăng ký giao dịch bảo đảm, đăng ký quyền sở hữu công nghiệp và tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản vô hình.
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ.
- Đối với thực tiễn tư vấn và kinh doanh: Hỗ trợ các luật sư, thẩm định viên, nhà đầu tư và doanh nghiệp nhận diện rủi ro pháp lý, hoàn thiện hợp đồng góp vốn bằng nhãn hiệu và thực hiện đúng thủ tục định giá, chuyển giao theo luật định.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đề xuất sửa đổi khái niệm nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam như thế nào?
Luận án chỉ ra điểm bất cập tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ khi giới hạn nhãn hiệu là "dấu hiệu nhìn thấy được", chưa tương thích với Điều 4 (khoản 16), Hiệp định TRIPS và Điều 18.18 của Hiệp định CPTPP. Tác giả đề xuất định nghĩa lại: "Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau không thuộc các trường hợp bị từ chối đăng ký", nhằm mở đường cho việc bảo hộ các dấu hiệu phi thị giác như âm thanh hoặc mùi hương.
2. Góp vốn bằng nhãn hiệu có những hình thức pháp lý cơ bản nào?
Theo phân tích của luận án, góp vốn bằng nhãn hiệu được thực hiện qua hai hình thức:
- Chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu: Chủ sở hữu chuyển toàn bộ quyền sở hữu nhãn hiệu sang cho doanh nghiệp nhận vốn góp; quyền này trở thành tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân doanh nghiệp.
- Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng góp vốn): Chủ sở hữu chỉ cho phép doanh nghiệp khai thác, sử dụng giá trị thương mại của nhãn hiệu trong một thời hạn và phạm vi nhất định để quy đổi thành giá trị phần vốn góp tương ứng mà không làm mất quyền sở hữu gốc.
3. Xung đột lớn nhất về thời hạn góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay là gì?
Luật Doanh nghiệp quy định người thành lập doanh nghiệp phải góp đủ vốn cam kết trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, thủ tục chuyển quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ thường kéo dài nhiều tháng, dẫn đến việc nhà đầu tư không thể hoàn tất thủ tục chuyển quyền tài sản hợp pháp đúng hạn định 90 ngày của pháp luật doanh nghiệp.
4. Luận án vận dụng những lý thuyết nền tảng nào để nghiên cứu vấn đề định giá nhãn hiệu góp vốn?
Luận án vận dụng Lý thuyết về thương mại cân bằng và hợp lý, Lý thuyết về tự do hợp đồng và Lý thuyết về tính thực dụng và giá trị kinh tế của nhãn hiệu, kết hợp các tiêu chuẩn định giá quốc tế của IVSC và RICS để luận giải quyền tự định giá của các bên và yêu cầu kiểm soát tính khách quan của tổ chức định giá chuyên nghiệp.
5. Văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam ghi nhận về bảo hộ nhãn hiệu là văn bản nào?
Theo kết quả nghiên cứu lịch sử pháp luật của luận án, văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam quy định chính thức về nhãn hiệu là Nghị định số 175-TTg ngày 03 tháng 04 năm 1958 quy định về Thể lệ dùng nhãn hiệu Thương phẩm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu" của tác giả Lê Minh Thái là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý kinh tế về cơ chế điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với phương pháp so sánh luật học và phân tích quy phạm, luận án đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cốt lõi, đánh giá sâu sắc thực trạng mâu thuẫn giữa pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật doanh nghiệp hiện hành. Các kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy phạm và giải pháp thực thi do luận án đề xuất mang giá trị khoa học thực tiễn, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của Việt Nam.