Tổng quan luận án

Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Cơ chế thị trường thúc đẩy các chủ thể kinh tế khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích trước mắt, dẫn đến các hệ lụy môi trường như suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường sống, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2021) xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 dựa trên nguyên tắc phát triển nhanh và bền vững; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời chú trọng chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, nơi cư trú lâu đời của các cộng đồng dân tộc bản địa như Ba Na, Gia Rai, Êđê, M’nông, Cơ Ho, Mạ. Không gian văn hóa truyền thống của các tộc người này gắn liền với rừng tự nhiên và hệ sinh thái bản địa. Tuy nhiên, trong thời gian qua, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của đồng bào đã chuyển dịch từ tôn trọng, hài hòa và bảo vệ sang khai thác triệt để nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế. Tình trạng suy giảm diện tích rừng, xói mòn đất bazan và cạn kiệt nguồn nước đầu nguồn làm đứt gãy mối liên kết giữa con người và thiên nhiên. Mặc dù đã có các công trình tiếp cận văn hóa Tây Nguyên từ nhân học, dân tộc học và kinh tế học, song việc nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ triết học về việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số tại chỗ vẫn là một khoảng trống học thuật cần được giải quyết.

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay" được triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị này, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng Tây Nguyên.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Thứ nhất, tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay; chỉ ra những khoảng trống mà luận án cần tiếp tục làm sáng tỏ.
    2. Thứ hai, làm rõ những vấn đề lý luận về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
    3. Thứ ba, phân tích thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay, từ đó chỉ ra những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
    4. Thứ tư, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

  • Phạm vi nghiên cứu:

    • Về nội dung: Luận án tiếp cận trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích các biểu hiện của giá trị văn hóa ứng xử qua ba khía cạnh cụ thể: (1) ứng xử với nương rẫy, cây trồng, động vật; (2) ứng xử với rừng; (3) ứng xử với tài nguyên đất và nguồn nước.
    • Về không gian: Tập trung khảo sát các dân tộc thiểu số tại chỗ cư trú lâu đời tại 5 tỉnh Tây Nguyên, bao gồm: dân tộc Êđê (chủ yếu ở Đắk Lắk), dân tộc Gia Rai (chủ yếu ở Gia Lai), dân tộc M’nông (chủ yếu ở Đắk Nông), dân tộc Ba Na (chủ yếu ở Kon Tum), dân tộc Xơ-đăng và Mạ (chủ yếu ở Lâm Đồng).
    • Về thời gian: Phân tích tiến trình biến đổi và thực trạng từ năm 1986 (thời điểm khởi xướng công cuộc Đổi mới) đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo ba nhóm công trình trong nước và quốc tế:

Nhóm nghiên cứu quốc tế và lý luận về văn hóa ứng xử, đạo đức môi trường

Khái niệm ứng xử và đạo đức môi trường được hình thành qua các văn kiện quốc tế và công trình học thuật:

  • Văn kiện Hội nghị Stockholm của Liên Hợp Quốc (1972) đặt nền tảng cho quản trị môi trường toàn cầu, xác lập tuyên bố về tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên. Hội nghị Rio de Janeiro (1992) ban hành 27 nguyên tắc, trong đó nguyên tắc thứ 4 khẳng định bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành hữu cơ của phát triển bền vững.
  • Aldo Leopold (1949) với tác phẩm "The Land Ethic" (Đạo đức về đất đai) đặt nền móng cho lý thuyết đạo đức môi trường, đưa ra thước đo: hành vi đúng đắn khi hướng tới bảo tồn tính toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật.
  • Lynn White (1967) qua bài viết "The Historical Roots of Our Ecologic Crisis" trên tạp chí Science phân tích thái độ của con người đối với tự nhiên là căn nguyên dẫn đến khủng hoảng sinh thái. Garrett Hardin (1968) công bố bài viết "The Tragedy of the Commons" (Bi kịch mảnh đất công), chỉ ra cơ chế kinh tế dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên sở hữu chung khi không có sự kiểm soát ứng xử.
  • Peter Wohlleben (2015) với cuốn sách "The hidden life of trees" (Đời sống bí ẩn của cây) mô tả sự tương tác sinh thái trong rừng và khuyến nghị con người thay đổi nhận thức, không thuần túy xem rừng là nơi khai thác gỗ mà phải xây dựng văn hóa ứng xử hài hòa với tự nhiên.
  • Các công trình nhân học và dân tộc học kinh điển về Tây Nguyên của học giả phương Tây: Henri Maitre (1912, bản dịch tiếng Việt năm 2008) với "Rừng người Thượng"; Georges Condominas (2003) với "Chúng tôi ăn rừng" khảo sát chu kỳ nông nghiệp của người M’nông Gar tại Sar Luk (1948 - 1949); Anne De Hautecloque Howe (2004) với "Người Êđê: Một xã hội mẫu quyền"; Jacques Dournes với tác phẩm "Rừng, đàn bà, điên loạn" về xã hội Gia Rai.

Nhóm nghiên cứu trong nước về văn hóa ứng xử và thực trạng văn hóa môi trường

  • Trần Ngọc Thêm (1999) trong "Cơ sở văn hoá Việt Nam" định nghĩa văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần; phân chia văn hóa ứng xử với tự nhiên thành hai xu hướng: tận dụng (ăn uống) và ứng phó (mặc, ở, đi lại).
  • Lê Như Hoa (chủ biên, 2002) với "Văn hoá ứng xử các dân tộc Việt Nam" và Nguyễn Viết Chức (chủ biên, 2002) với "Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên" làm rõ văn hóa ứng xử là phương thức thích nghi, tự bảo tồn thông qua hệ thống chuẩn mực đạo đức và thẩm mỹ.
  • Trần Thúy Anh (2009) vận dụng nhân học văn hóa nghiên cứu ứng xử cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ; Trần Hữu Sơn (2017) khảo cứu văn hóa ứng xử của người Dao vùng Tây Bắc dựa trên định nghĩa môi trường của Trần Quốc Vượng.
  • Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi (1982) với "Đại cương về các dân tộc Êđê, M’Nông ở Đắk Lắk"; Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 1996) trong "Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam" và công trình phối hợp "Luật tục Êđê: tập quán pháp" (2012) phân tích 236 điều luật tục Êđê điều chỉnh quan hệ ứng xử với rừng, đất đai, nguồn nước. Phạm Quang Tiến và Nguyễn Thị Hồi (2010) đối sánh luật tục Êđê và luật tục M'nông (215 điều) trong bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Đỗ Hồng Kỳ (2012) với "Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững" chỉ ra thế giới quan vạn vật hữu linh chi phối ứng xử cân bằng với bến nước, rừng đầu nguồn; Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên, 2005, 2014) khẳng định hệ thống giá trị xã hội truyền thống của đồng bào Tây Nguyên xoay quanh hai trục trung tâm là "buôn làng" và "rừng". Lê Văn Khoa, Phạm Quang Tú (đồng chủ biên, 2014) khảo sát thực trạng thoái hóa đất bazan và suy giảm tài nguyên rừng Tây Nguyên. Bùi Thị Hòa (2015) nghiên cứu các giá trị bản địa tại Đắk Nông; Đỗ Huy (2007) bàn về đạo đức sinh thái; Hồ Sĩ Quý phân tích mối quan hệ con người - tự nhiên và tính độc lập tương đối của văn hóa ứng xử môi trường đối với trình độ học vấn.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả dân tộc học thuần túy, phân tích tập quán pháp dưới góc độ pháp lý, hoặc đánh giá thực trạng suy thoái môi trường dưới góc độ kinh tế - sinh thái. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) về vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trên cả ba chiều kích: đất/nước, rừng và nương rẫy/cây trồng/vật nuôi trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:

  • Quan điểm triết học Mác - Lênin: Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác khẳng định tự nhiên là thân thể vô cơ của con người; con người là một bộ phận của tự nhiên và sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần của con người liên hệ mật thiết với tự nhiên. Trong "Hệ tư tưởng Đức" và "Biện chứng của tự nhiên", Ph. Ăngghen khẳng định lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại gắn kết hữu cơ; đồng thời cảnh báo nhân loại không nên quá tự hào về những thắng lợi trước tự nhiên, bởi mỗi lần chinh phục không tính toán đến quy luật khách quan, giới tự nhiên sẽ có những tác động phản kháng trở lại.
  • Khái quát triết học của Hồ Sĩ Quý: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên bao gồm ba nguyên lý: (1) Con người với tự nhiên là một; (2) Tự nhiên là thân thể vô cơ của con người; (3) Con người không thể thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Tác giả cũng chỉ ra văn hóa ứng xử với tự nhiên có tính độc lập tương đối với trình độ học vấn của chủ thể.
  • Khái niệm công cụ của luận án:
    • Môi trường tự nhiên là tổng thể các điều kiện tự nhiên bao quanh con người, tác động qua lại với hoạt động sống của xã hội (đất đai, không khí, nguồn nước, hệ động thực vật).
    • Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên là hệ thống tri thức, thái độ, tình cảm và hành vi của con người đối với các điều kiện tự nhiên trong tiến trình lịch sử, phù hợp với truyền thống và tín ngưỡng cộng đồng.
    • Giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là hệ thống chuẩn mực, quy tắc trong nhận thức, thái độ và hành động thể hiện tinh thần tôn trọng, bảo vệ tự nhiên, được chắt lọc qua lịch sử, gắn bó với truyền thống buôn làng và mang tính lịch sử cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Sử dụng để phân tích sự hình thành khái niệm, làm rõ sự biến đổi của các giá trị văn hóa ứng xử từ xã hội cổ truyền sang xã hội đương đại.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt để tổng hợp các luận điểm khoa học, đánh giá các tài liệu dân tộc học, luật tục và rút ra các nhận định lý luận.
  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Phân tách chỉnh thể văn hóa ứng xử thành ba khía cạnh cụ thể (ứng xử với nương rẫy, cây trồng, vật nuôi; ứng xử với rừng; ứng xử với tài nguyên đất và nguồn nước) nhằm làm rõ bản chất triết học của từng mối quan hệ.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Ứng dụng chủ yếu trong chương 4 nhằm xác định xu thế biến động văn hóa môi trường tại địa bàn Tây Nguyên và định hình hệ thống giải pháp chính sách.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, chủ trương, chính sách phát triển vùng Tây Nguyên;
  • Số liệu thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê; báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (năm 2021); dữ liệu địa lý, lâm nghiệp và xã hội giai đoạn 2001 - 2012 và 2020 - 2021;
  • Các văn bản tập quán pháp, luật tục dân tộc (luật tục Êđê 236 điều, luật tục M’nông 215 điều); các công trình nghiên cứu điền dã của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các học giả trong, ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục và 4 chương nội dung (bao gồm 12 tiết):

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu theo ba mảng nội dung chính:

  • Tiết 1.1: Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên. Phân tích các lý thuyết quốc tế về đạo đức môi trường (Aldo Leopold, Lynn White, Garrett Hardin, Peter Wohlleben) và các quan niệm văn hóa học trong nước (Trần Ngọc Thêm, Lê Như Hoa, Nguyễn Viết Chức, Trần Thúy Anh, Trần Hữu Sơn). Khẳng định vị trí của triết học Mác - Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
  • Tiết 1.2: Những nghiên cứu liên quan đến thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đánh giá các công trình khảo cứu dân tộc học của Henri Maitre, Georges Condominas, Anne De Hautecloque Howe, Jacques Dournes, Bế Viết Đẳng, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Văn Khoa. Các tài liệu ghi nhận sự biến đổi văn hóa bản địa dưới tác động của kinh tế thị trường, di dân tự do và sự du nhập của các tôn giáo mới.
  • Tiết 1.3: Những nghiên cứu liên quan đến quan điểm và giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Điểm luận các giải pháp kinh tế, quy hoạch đất đai, bảo vệ rừng và an sinh xã hội từ các nghiên cứu của Bạch Hồng Việt, Nguyễn Hường, Bùi Thị Hòa, Nguyễn Văn Tiệp, Phạm Thị Oanh. Chỉ ra rằng phần lớn giải pháp trước đây mang tính kỹ thuật hoặc quản lý chung, chưa đi sâu vào cơ chế kết hợp giữa luật tục truyền thống và pháp luật hiện đại dưới góc độ triết học xã hội.

Chương 2: Khái quát về các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Chương này làm rõ nền tảng tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội và nội dung các giá trị ứng xử:

  • Đặc thù điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên: Vùng có diện tích tự nhiên 54.473,7 km² (chiếm 16,5% cả nước), độ cao trung bình 400 - 800 m, địa hình chuyển tiếp giữa Đông và Tây Trường Sơn. Nơi đây là đầu nguồn của 4 hệ thống sông chính (Pôkô - Sêsan, Ba - Ayun, Sêrêpôk, Đồng Nai), trữ năng thủy điện chiếm 22% cả nước (tiềm năng 15 tỷ kWh điện/năm). Tài nguyên đất đỏ bazan có độ xốp 65%, hàm lượng mùn cao, tầng đất mặt mùa khô đạt độ ẩm 40%, phù hợp cho các vùng chuyên canh cà phê, cao su. Độ che phủ rừng tự nhiên trên 54% giữ vai trò cân bằng sinh thái cho cả Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Chỉ tiêu địa lý - kinh tế - dân cư Tây Nguyên Dữ liệu được luận án ghi nhận
Tọa độ địa lý 11°45' đến 15°27' vĩ Bắc; 107°12' đến 108°55' kinh Đông
Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng 54.473,7 km² (chiếm 16,5% diện tích cả nước)
Phân bổ diện tích các tỉnh Gia Lai: 15.494,9 km²; Đắk Lắk: 13.085 km²; Kon Tum: 9.614,5 km²; Đắk Nông: 6.514,5 km²; Lâm Đồng: 9.773,5 km²
Cơ cấu đất lâm nghiệp 3.147 ha (55,2% diện tích); 28% đất trống, rừng nghèo kiệt; 65% rừng tự nhiên tập trung
Đất nông nghiệp, đất ở, đồi trọc Đất nông nghiệp: 1.479 ha (3,58%); Đất ở: 33.960 ha (0,62%); Núi đá, đồi trọc: 872.290 ha (16%)
Dân số (Tổng điều tra 01/4/2019) 5.681 triệu người (6,1% cả nước); 49/54 dân tộc; DTTS: 2.955 triệu người (37,7%)
Tỷ lệ cư dân đô thị - nông thôn Nông thôn chiếm 68,94%; Thành thị chiếm 31,06%
Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số theo tỉnh Kon Tum: 55,7%; Gia Lai: 46,2% - 49%; Đắk Nông: 36%; Lâm Đồng: 47 dân tộc sinh sống
Tín đồ tôn giáo Chiếm hơn 30% dân số toàn vùng; người DTTS chiếm 324,3% tổng số người theo Tin Lành và 248,9% tổng số người theo Công giáo (ghi nhận theo số liệu trích báo cáo)
Tăng trưởng kinh tế GDP 2001 - 2012 tăng 11,9%/năm; 6 tháng đầu năm 2021 GRDP tăng 7,21% (Gia Lai tăng 9,7%, Đắk Lắk tăng 9,11%)
  • Đặc điểm xã hội và tín ngưỡng: Nền kinh tế nông nghiệp vẫn tồn tại tính chất tự cấp tự túc xen lẫn kinh tế thị trường; tập quán canh tác truyền thống (phát, đốt, chọc, tỉa) cùng phương thức đổi công (bring) duy trì tính gắn kết buôn làng. Đời sống tâm linh phản ánh thế giới quan vạn vật hữu linh với hệ thống thần linh tự nhiên: thần lúa (Lang xơri), thần nước (Yang Đak), thần núi (Yang Kông), thần cây (Yang Long). Sự mở rộng của các tôn giáo như Công giáo và Tin Lành làm biến đổi cấu trúc tín ngưỡng bản địa từ gốc rễ.
  • Nội dung ba chiều kích giá trị văn hóa ứng xử:
    1. Ứng xử với nương rẫy, cây trồng, động vật: Tôn trọng quy luật sinh trưởng tự nhiên, lựa chọn đất canh tác cẩn trọng để bảo toàn độ phì nhiêu, tránh triệt hạ sinh vật đất; các nghi lễ vòng đời cây lúa phản ánh lòng biết ơn đối với sản vật thiên nhiên.
    2. Ứng xử với rừng: Rừng được coi là không gian sinh tồn thiêng liêng. Luật tục bảo vệ nghiêm ngặt rừng đầu nguồn, rừng thiêng, nghiêm cấm việc chặt hạ cây cổ thụ nơi cư ngụ của chim thú và thần linh.
    3. Ứng xử với tài nguyên đất và nguồn nước: Coi đất đai và nguồn nước là tài sản chung của cộng đồng buôn làng; thực hiện các nghi thức dọn dẹp, bảo vệ bến nước đầu nguồn, cấm làm ô uế dòng chảy phục vụ đời sống chung.

Chương 3: Thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay và những vấn đề đặt ra

(Nội dung được luận án triển khai theo nhiệm vụ nghiên cứu thứ ba):

  • Sự biến đổi thực trạng văn hóa ứng xử: Phân tích quá trình chuyển hóa từ lối ứng xử tôn trọng, kiêng cữ sang tâm lý khai thác triệt để phục vụ lợi ích kinh tế cá nhân dưới tác động của kinh tế hàng hóa.
  • Nguyên nhân dẫn đến suy thoái giá trị truyền thống: Tác động từ sự bùng nổ dân số cơ học do di dân tự do từ các vùng khác đến, dẫn đến tình trạng phá rừng tự nhiên lấy đất sản xuất cà phê, hồ tiêu và cây công nghiệp ngắn ngày; sự suy giảm diện tích rừng làm mất không gian văn hóa cồng chiêng và văn hóa rừng; sự thay đổi cấu trúc sở hữu đất đai và việc thương mại hóa nông sản.
  • Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái; sự xung đột giữa thiết chế pháp luật hiện đại với tập quán pháp/luật tục buôn làng; tâm lý tự ti văn hóa của một bộ phận đồng bào trước làn sóng giao thoa văn hóa ngoại lai.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian tới

(Nội dung được luận án triển khai theo nhiệm vụ nghiên cứu thứ tư và phương pháp dự báo khoa học):

  • Hệ quan điểm định hướng: Phát triển bền vững phải dựa trên sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái; giữ gìn giá trị truyền thống gắn liền với tính lịch sử cụ thể, giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại; tôn trọng tính đa dạng văn hóa của các tộc người tại chỗ.
  • Hệ thống nhóm giải pháp:
    1. Nhóm giải pháp kinh tế - xã hội: Chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp sang nông nghiệp bền vững, hạn chế phá rừng làm rẫy; thực hiện chính sách giảm nghèo đa chiều, nâng cao đời sống vật chất để đồng bào không phụ thuộc tiêu cực vào khai thác tài nguyên tự nhiên.
    2. Nhóm giải pháp chính sách, pháp luật và quản lý: Kết hợp hài hòa giữa luật tục bản địa (các quy định bảo vệ rừng, nguồn nước trong luật tục Êđê, M’nông) với hệ thống pháp luật của Nhà nước; tăng cường quy hoạch quản lý đất rừng, đất sản xuất, giao đất giao rừng cho cộng đồng buôn làng quản lý.
    3. Nhóm giải pháp giáo dục, văn hóa và môi trường: Khắc phục tư tưởng tự ti văn hóa, khơi dậy niềm tự hào về tri thức bản địa bảo vệ môi trường; tuyên truyền nâng cao nhận thức sinh thái cho thế hệ trẻ; đẩy mạnh giáo dục cộng đồng gắn với bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng và văn hóa rừng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án phân tích một cách có hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về bản chất, nội dung của văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên;
  • Làm rõ tính quy định của tồn tại xã hội (phương thức sản xuất nông nghiệp nương rẫy, điều kiện tự nhiên rừng nhiệt đới, cơ cấu buôn làng) đối với ý thức xã hội và các chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống của các tộc người bản địa;
  • Xác lập khung lý luận về tính lịch sử cụ thể của các giá trị văn hóa môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng biến đổi văn hóa ứng xử với tự nhiên của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ năm 1986 đến nay, chỉ ra những mâu thuẫn xã hội phát sinh giữa bảo tồn bản sắc và sức ép kinh tế;
  • Cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn giúp cấp ủy, chính quyền địa phương tại 5 tỉnh Tây Nguyên ban hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ tài nguyên rừng, đất và nguồn nước;
  • Đề xuất mô hình lồng ghép các giá trị tiến bộ của luật tục truyền thống vào công tác quản trị môi trường và xây dựng quy ước buôn làng hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu giới hạn phạm vi khảo sát ở các tộc người thiểu số tại chỗ cư trú lâu đời (Êđê, Gia Lai, M’nông, Ba Na, Xơ-đăng, Mạ), chưa mở rộng khảo cứu sâu văn hóa ứng xử của các nhóm dân tộc thiểu số di cư từ miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên trong giai đoạn sau Đổi mới. Bên cạnh đó, nguồn số liệu thứ cấp về diện tích đất lâm nghiệp, nông nghiệp và tôn giáo được tổng hợp từ các báo cáo thống kê chuyên ngành giai đoạn 2012 - 2021, chưa phản ánh đầy đủ những biến động c