chương 1 của cuốn sách trình bày tổng quan nghiên cứu về người Dao và ứng xử với môi trường tự nhiên của người Dao ở Việt Nam và vùng Tây Bắc. Trong nghiên cứu ứng xử của người Dao với môi trường tự nhiên này thì khái niệm môi trường tự nhiên được hiểu theo cách định nghĩa của Trần Quốc Vượng - “môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm những thực thể, loài (quần xã) có quan hệ trực tiếp, trước hết bằng mối quan hệ thích nghi, rồi sau đó mới đến biến đổi” [156; tr. Từ đó, môi trường tự nhiên được 13 hiểu là “một bộ phận trong “môi trường lớn”, là tổng thể các nhân tố tự nhiên xung quanh chúng ta như bầu khí quyển, nham thạch, khoáng sản, bức xạ mặt trời…” [156; tr. Tác giả Trần Hữu Sơn khi đi vào nghiên cứu gắn với địa bàn của người Dao ở Tây Bắc Việt Nam vì vậy môi trường tự nhiên cũng chính là môi trường tự nhiên nơi có những người Dao sinh sống ở vùng Tây Bắc.
Và giá trị văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên được biểu hiện thông qua văn hoá ứng xử của người Dao với các nhân tố căn bản trong đời sống của họ như đất đai, nguồn nước, không khí, rừng, động thực vật… Khái niệm mấu chốt là khái niệm văn hoá ứng xử được tác giả Trần Hữu Sơn đưa ra là: “Văn hoá ứng xử là hệ thống các hành động, thái độ và cách thức quan hệ của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và con người với nhau, được thực hiện trong quá trình thực hiện các hoạt động sống và thích nghi, thích ứng với hoàn cảnh sống” [112; tr. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ: “Văn hoá ứng xử được hình thành qua quá trình tương tác của con người với môi trường tự nhiên, xã hội và con người, nó chịu sự quy định của các hệ thống giá trị chuẩn mực nhất định và có thể thay đổi” [112; tr. Như vậy, có thể thấy rằng khi đi vào nghiên cứu văn hoá ứng xử của người Dao với môi trường tự nhiên, tác giả đã đi vào nghiên cứu hệ thống giá trị văn hoá ứng xử của người Dao thể hiện qua tri thức dân gian, kinh nghiệm, công nghệ trong ứng xử với các khía cạnh trong môi trường tự nhiên như nguồn tài nguyên đất, nước, rừng, sinh vật… trong quá trình thích nghi và khai phá tự nhiên của người Dao. Từ đó tác giả Trần Hữu Sơn khẳng định chỉ có thông qua sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên trong đời sống hàng ngày mới hình thành nên văn hoá ứng xử, nhưng văn hoá ứng xử đó còn chịu sự chi phối của hệ thống chuẩn mực trong xã hội và có thể thay đổi khi điều kiện sống thay đổi.
Dưới góc độ bài báo, tạp chí có thể kể đến Bài viết “Tập quán và luật tục bảo vệ môi trường tự nhiên của một số dân tộc ít người ở Việt Nam” của Phạm Quang Tiến, Nguyễn Thị Hồi (2010) [127; tr.53] đã đề cập đến tập quán và luật tục ứng xử với môi trường tự nhiên của một số dân tộc thiểu số (Êđê, Mnông, Thái, Mường) để có thể làm tư liệu tham khảo trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật của Việt Nam. Nếu như luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu, trong đó 14 có những điều luật tục liên quan văn hoá ứng xử với môi trường được cộng đồng quan tâm hơn cả thể hiện qua việc bảo vệ rừng, chim thú, đất đai, nguồn nước; thì luật tục của dân tộc M’nông lại có 215 điều với khoảng 7. Cũng tương tự như luật tục Êđê, luật tục M’nông rất coi trọng văn hoá ứng xử của con người với môi trường tự nhiên thể hiện qua việc bảo vệ các yếu tố của môi trường sinh thái như rừng, nguồn nước, các loài động vật hoang dã và gia súc. Song khác với luật tục Êđê, luật tục M’nông quan tâm đến việc điều chỉnh quan hệ sở hữu đối với rừng, đất đai, nương rẫy và cách thức chăn nuôi gia súc.
Nhóm tác giả đã dựa trên tập quán và luật tục để đi vào làm rõ sự đa dạng của mỗi tộc người cũng như vai trò của nó đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Tập quán được nhóm tác giả định nghĩa: “Tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng” [127; tr. Như vậy, nếu nhìn nhận tập quán dưới góc độ là một loại quy phạm xã hội thì tập quán có thể được hiểu là quy tắc ứng xử được hình thành một cách tự phát trong cộng đồng dân cư, được lặp đi lặp lại trong lao động, sản xuất, sinh hoạt… và lưu truyền chủ yếu thông qua truyền miệng, thói quen, dư luận của xã hội. Còn luật tục: “là những quy tắc, nguyên tắc ứng xử hình thành và tồn tại trong cộng đồng dân cư, có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với mọi thành viên trong cộng đồng, được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp nhất định trong đó có cả biện pháp cưỡng chế” [127; tr.
Luật tục là một phạm trù rộng hơn so với tập quán, bởi lẽ luật tục bao gồm cả giá trị bắt buộc tôn trọng và thực hiện, cả về biện pháp bảo đảm thực hiện. Vì vậy, nó tồn tại lâu đời, ngấm sâu vào tiềm thức của các dân tộc thiểu số, trở thành thói quen ứng xử hàng ngày của họ, được họ thực hiện một cách tự giác để trở thành giá trị văn hoá ứng xử. Bài viết “Quan niệm của Chủ nghĩa Mác về quan hệ giữa con người với tự nhiên và vấn đề tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường toàn cầu hiện nay” của Nguyễn Đình Hoà (2018) [65]. Nội dung bài viết đã khẳng định mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, đồng tiến hoá giữa con người với tự nhiên.
Đáng tiếc là, suốt một thời gian dài, các quốc gia trên thế giới đã xem nhẹ vấn đề này và trên thực tế, việc áp 15 dụng mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống - chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và các năng lượng hoá thạch đã phải trả giá bằng sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, mất cân bằng sinh thái, suy giảm chất lượng sống… đe doạ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh như vậy, thực hiện tăng trưởng xanh gắn với bảo vệ môi trường trên cơ sở nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên cũng như tầm quan trọng của môi trường tự nhiên với cuộc sống của con người và xã hội loài người - điều mà trước đây C.Ăngghen đã từng chỉ ra, được xem là một sự lựa chọn thông minh, một chiến lược phù hợp của xã hội đương đại trên phạm vi toàn cầu nhằm không chỉ đạt được sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bảo vệ môi trường tự nhiên để phát triển bền vững. Những công trình nghiên cứu trên cho thấy những nghiên cứu về văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên từ nhiều góc độ phong phú, đa dạng khác nhau, song những nghiên cứu chuyên sâu về lý luận văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên dưới góc độ triết học còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên, những công trình trên đã phản ánh những hành vi ứng xử có văn hoá với môi trường để hình thành nên giá trị văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và lên án những hành vi ứng xử chưa văn hoá với môi trường tự nhiên.
Từ đó góp phần xây dựng và hoàn thiện văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên trong nền văn hoá hiện nay mà vẫn đảm bảo hai yếu tố truyền thống và hiện đại. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN Khi nghiên cứu về văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên, ngoài việc trình bày những vấn đề lý luận, các tác giả còn phân tích thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc nói chung và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng. Mặc dù các công trình chỉ đề cập đến thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với dung lượng khá nhỏ, chưa chi tiết nhưng đây là những tài liệu, nguồn thông tin luận án kế thừa, tiếp thu sau khi tìm hiểu và tổng quan: 16 Công trình “Văn hoá sinh thái - nhân văn” của tác giả Trần Lê Bảo (2005) [14]. Trong đó nội dung của cuốn sách đề cập đến ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái - nhân văn và sự phát triển bền vững.
Đồng thời cuốn sách cũng nêu ra một số nội dung liên quan đến văn hoá ứng xử với môi trường thiên nhiên, truyền thống hoà hợp với thiên nhiên của người Việt Nam, thực trạng cùng thách thức về môi trường sinh thái - nhân văn ở nước ta hiện nay trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển kinh tế. Công trình “Đạo đức môi trường nước ta - Lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Dũng (2011) [40]. Nội dung của cuốn sách đề cập tới một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên; các tiêu chí đánh giá giá trị văn hoá ứng xử với môi trường, sự xuất hiện và những khuynh hướng cơ bản của văn hoá ứng xử môi trường, các chức năng cơ bản của văn hoá ứng xử với môi trường. Cuốn sách đã phân tích kinh nghiệm ứng xử với môi trường của một số quốc gia, chỉ ra những khía cạnh đạo đức liên quan đến giá trị văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên.
Đây là những kinh nghiệm quý giá với nước ta nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Từ góc độ văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên, tác giả cuốn sách đã chỉ ra hiện nay còn nhiều hành vi mang tính phi văn hoá với môi trường xảy ra ở nhiều nơi, từ thành thị, nông thôn đến miền núi - đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm môi trường và việc bảo vệ môi trường chưa bền vững ở nước ta hiện nay.