Chuyên đề 1 PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HẢI VÀ CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ HÀNG HẢI MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN Phần thứ nhất: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT HÀNG HẢI Luật sư Phạm Thanh Tân Khoa Hàng hải Trường Đại học Hàng hải Việt Nam I. Quá trình hình thành, phát triển của tổ chức Hàng hải thế giới. Tổ chức IMO Từ ngày 19/2/1948 đến ngày 06/3/1948 Hội nghị hàng hải của Liên hợp quốc họp tại Giơ ne vơ – Thụy Sĩ đã thông qua Công ước về việc thành lập Tổ chức Tư vấn Hàng hải liên Chính phủ ( IMCO ) vào ngày 6/3/1948, tiền thân của IMO ngày nay. Công ước đã có hiệu lực ngày 17/03/1958, và tổ chức mới này nằm trong hệ thống các tổ chức được thành lập của Liên hợp quốc.
Tổ chức IMCO đã chính thức ra mắt lần đầu tại phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 6/1/1959. Ngày 22/05/1982, tổ chức IMCO chính thức đổi tên thành "Tổ chức hàng hải quốc tế"- International Maritime Organization -IMO. Mục đích cơ bản của IMO được tóm tắt là: Tạo ra một bộ máy cho sự phối hợp giữa các chính phủ trong lĩnh vực luật lệ chính quyền và thực tiễn liên quan đến các vấn đề kỹ thuật tác động đến vận tải biển trong thương mại quốc tế; Khuyến khích và tạo thuận lợi cho sự chấp nhận chung các tiêu chuẩn cao nhất có thể thực hiện được đối với các vấn đề liên quan đến an toàn hàng hải, hiệu quả của hoạt động hàng hải và bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Hàng năm, IMO nhóm họp trên 25 cuộc họp ở các cấp khác nhau: Hội nghị ngoại giao (Diplomatic Conference) để xem xét thông qua, sửa đổi công ước; Đại hội đồng (Assembly); Hội đồng (Council); Uỷ ban (Committee); Tiểu ban (Sub-Committee); Các nhóm công tác (Working Group).
Cơ cấu tổ chức của IMO IMO hiện có 170 quốc gia thành viên và 3 thành viên liên kết (Hongkong, Macau và quần đảo Faroe-Đan mạch). Ngoài ra còn có nhiều quan sát viên. 1 IMO bao gồm: Đại hội đồng (Assembly), Hội đồng (Council) và năm Uỷ ban chính (Committee) là: Uỷ ban an toàn hàng hải (MSC), Uỷ ban bảo vệ môi trường biển (MEPC), Uỷ ban luật pháp (LC), Uỷ ban hợp tác kỹ thuật (TCC), và ủy ban tạo sự thuận lợi. Ngoài ra, IMO còn có 9 tiểu ban (Sub-Committee) và các nhóm công tác (Working Group) và một ban thư ký đứng đầu là Tổng thư ký.
Hoạt động của tổ chức IMO 1. Đại hội đồng IMO Là cơ quan quyền lực cao nhất của IMO, bao gồm các nước thành viên của tổ chức, thường họp 2 năm một lần nhưng cũng có thể có các khóa họp đặc biệt. Chức năng của Đại hội đồng là: - Xác định phương hướng làm việc của Tổ chức cho 2 năm giữa hai kỳ đại hội. - Bầu ban lãnh đạo của Tổ chức, và kết nạp các thành viên mới.
- Xem xét, thông qua chương trình ngân sách, các khuyến nghị của các ủy ban. - Xem xét việc sửa đổi, bổ xung Công ước… 1. Hội đồng (Council) Hội đồng do Đại hội đồng bầu với nhiệm kỳ 2 năm một lần, bao gồm 40 thành viên và thay mặt Đại hội đồng giải quyết công việc của IMO trong nhiệm kỳ 2 năm. Các thành viên được bầu theo nguyên tắc sau: 10 thành viên là các quốc gia đặc biệt quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ Hàng hải quốc tế; 10 thành viên khác là các quốc gia đặc biệt quan tâm đến thương mại Hàng hải quốc tế.
20 thành viên còn lại không theo các tiêu chuẩn trên nhưng phải là những quốc gia có lợi ích đặc biệt trong vận tải biển và cuộc bầu cử phải đảm bảo nguyên tắc là tất cả các khu vực địa lý lớn đều có đại diện ỏ Hội đồng. Hội đồng nhóm họp 6 tháng một lần. Hội đồng là cơ quan chấp hành của IMO và chịu trách nhiệm giải quyêt toàn bộ các công việc của Tổ chức (xem xét các báo cáo, khuyến nghị của các ủy ban, xét duyệt chương trình ngân sách, chuẩn bị các báo cáo lên Hội đồng), Giữ hai kỳ họp của Đại hội đồng, Hội đồng thực hiện tất cả các chức năng của Đại hội đồng, ngoại trừ chức năng đưa ra các khuyến nghị cho các chính phủ về an toàn biển và ngăn ngừa ô nhiễm (quyền này dành riêng cho Đại hội đồng), và chỉ định Tổng thư ký cho Đại hội đồng chuẩn y. Các Uỷ ban IMO có 4 ủy ban, thông thường các ủy ban mỗi năm họp một lần.
a) Ủy ban An toàn Hàng hải (Maritime Safety Committee): 2 Bao gồm toàn bộ các thành viên của tổ chức, mỗi năm họp một lần. Nhiệm vụ chủ yếu của ủy ban là chịu trách nhiêm toàn bộ các vấn đề liên quan đến an toàn Hàng hải, đến qui tắc tránh va chạm, xủ lý hàng nguy hiểm, tìm và cứu nạn, phòng chống cháy nổ, giúp dữ ngành Hàng hải các nước trong lĩnh vực kỹ thuật đóng tàu, trang bị cho tàu, các tiêu chuẩn đào tạo, mẫu mã tàu và trang thiết bị. b) Ủy ban bảo vệ môi trường biển (Marine Enviroment Protection Commitee): Bao gồm toàn bộ thành viên của tổ chức, cùng với đại diện của một số quốc gia không tham gia IMO nhưng là thành viên của những hiệp ước về những lĩnh vực mà Ủy ban hoạt động. Nhiệm vụ của Ủy ban là điều phối và quản lý các hoạt động của Tổ chức về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm biển do tàu gây ra và tìm ra các biện pháp để chống lại sự ô nhiễm.
c) Ủy ban pháp lý (Legal Commitee): Bao gồm toàn bộ thành viên của tổ chức. Nhiệm vụ của Ủy ban là chịu trách nhiệm về các vấn đề pháp lý trong thẩm quyền của tổ chức, dự thảo các Công ước, các điều khoản bổ xung Công ước và đệ trình lên Hội đồng. d) Ủy ban hợp tac kỹ thuật (Technical Cooperation Commitee): ): Bao gồm toàn bộ thành viên của tổ chức. Nhiệm vụ chính của Ủy ban là nghiên cứu và đề xuất việc thực hiện các đề án hợp tác kỹ thuật với các nước thành viên dựa vào nguồn kinh phí của Tổ chức.
Theo dõi các công việc của Ban thư ký có liên quan đến hợp tác kỹ thuật. Để thực hiện các công việc liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, dưới các Ủy ban có các tiểu ban (Sub-Committee) và các nhóm công tác (Working Group). Ban thư ký IMO Đứng đầu là Tổng thư ký do Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm và một số thành viên khác, giúp việc cho IMO về các lĩnh vực: Tổ chức các cuộc họp liên quan tới các chủ đề có tính chất kỹ thuật thuộc các lĩnh vực. Kết quả cuộc họp là các văn bản dạng Nghị quyết, Thông tri.và tuỳ theo loại mà có hiệu lực như: Phải thực hiện ngay; Thông báo các thông tin cần quan tâm cho các nước thành viên; Dự thảo đệ trình lên Đại hội đồng để thông qua.
Mở hội nghị quốc tế thông qua Công ước. Biên soạn, thông tri về các thông báo từ các Chính phủ, thông báo cho các Chính phủ, báo cáo. Soạn thảo, sửa đổi các Công ước, Nghị quyết, Bộ luật, Hướng dẫn. Pháp luật Hàng hải Thế giới Pháp luật hàng thế giới gắn liền với sự phát triển của thương mại hàng hải quốc tế, có thể nói luật hàng hải là ngành luật đầu tiên điều chỉnh các vấn đề quan hệ quốc tế phát sinh.
Điểm khác biệt chính trong luật hàng hải thể hiện ở chỗ nó là luật chuyên ngành nhưng những lĩnh vực mà nó điều chỉnh có sự kết hợp của nhiều ngành luật trong nước ( Hành chính, Dân sự, Thương mại.) với Điều ước quốc tế và thậm chí cả những tập quán thương mại hàng hải đã được thừa nhận. Do vậy, tìm hiểu luật hàng hải quốc tế cần kết hợp tìm hiểu các quy định trong luật hàng hải các nước và trong Điều ước quốc tế về hàng hải. Quản lý tàu biển 2. Tàu biển Luật pháp quốc tế đều coi tàu biển là tài sản thuộc đối tượng của quyền sở hữu nhất định, quyền tài sản này của chủ sở hữu được luật dân sự điều chỉnh.
Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động của tàu biển theo luật Quốc tịch tàu – tàu biển mang quốc tịch nước nào phải tuân theo luật nước đó đồng thời cũng được luật pháp nước đó bảo hộ. Có nhiều cách phân loại tàu biển, nhưng dưới góc độ quản lý theo chức năng, tàu biển được phân thành tàu quân sự, tàu công vụ Nhà nước làm chức năng công cộng, tàu cá và tàu buôn (tàu kinh doanh thương mại ).Luật hàng hải quốc tế điều chỉnh hoạt động của tàu kinh doanh thương mại. Phụ thuộc vào chức năng khác nhau của từng loại tàu mà địa vị pháp lý của chúng cũng có sự khác nhau. Các tàu quân sự và tàu công vụ Nhà nước được hưởng quyền miễn trừ khi ở trong cảng của nước khác, còn tàu thương mại khi đến cảng nước khác phải tuân thủ và chịu sự tài phán theo luật của quốc gia có cảng, quốc gia cờ tàu.
Đăng ký tàu biển Mỗi tàu biển khi đưa vào hoạt động đều phải được đăng ký quốc tịch tàu và mang cờ quốc tịch của một quốc gia nhất định, tàu biển không được sử dụng cùng một lúc hai quốc tịch, tàu mang quốc tịch nước nào thì phải tuân thủ luật pháp nước đó và chịu sự kiểm tra, giám sát theo quy định của luật pháp nước đó. Các quy định về điều kiện, thủ tục đăng ký tàu biển được thực hiện theo luật của mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung các quốc gia phát triển đòi hỏi tàu phải đáp ứng thỏa mãn được các điều kiện về an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường. mới được đăng ký. Đăng kiểm tàu biển 4 Chính phủ quốc gia tàu mang cờ, thường được gọi là chính quyền hành chính hàng hải có trách nhiệm kiểm tra, cấp giấy chứng nhận phân cấp tàu biển theo tiêu chuẩn quy phạm phân cấp tàu biển quốc gia.
Đồng thời cũng tiến hành kiểm tra, cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật phù hợp với quy định của các Công ước quốc tế về an toàn hàng hải mà quốc gia là thành viên. Tuy nhiên, các chính quyền hành chính hàng hải được phép ủy quyền việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức phân cấp tàu biển phù hợp với Nghị quyết A.739(18) của IMO, nhưng trong mọi trường hợp Chính quyền hành chính hàng hải vẫn phải chịu trách nhiệm về khả năng an toàn kỹ thuật của tàu.